22 tháng 3, 2011

Will Cheryl Cole's Newcastle Accent Work in America?


VIETTIEN:

This interesting article from The BBC News Magazine is about Cheryl Cole's Geordie English. I think people who learn English as a second language, especial English-major students, will find it conspicuous. In addition to the original article and audio file from The BBC, I personally add a clip from YouTube in which she joins a radio interview. You will have a chance to listen to Cheryl's English and you may yourself have the answer to the question as to why she has to train her English so that American audiences can understand her English.
Now let us think of our Vietnamese dialects and accents. 



Cheryl Cole's Newcastle accent may be an obstacle to her succeeding on US television, reports suggest. So do American audiences understand some UK regional accents better than others?


It has been suggested Cheryl Cole is taking speaking lessons ahead of her appearance on the US version of the X Factor, with a focus on vowel pronunciation and vocabulary.
The same accent that has made Tyneside a magnet for call centres may not translate perfectly across the Atlantic.



It is not one with which most US audiences have been regularly confronted since Eric Burdon's heyday as lead singer of the Animals, and international rock stars who hail from the North East, like Sting and Bryan Ferry, have tended to have only mild accents.
It highlights the reality that patterns of speech used by millions of Britons, which would be readily recognised across the UK, are less well understood in the US.
Indeed, Sunday Mirror TV critic Kevin O'Sullivan, who served as a correspondent in Los Angeles for eight years, suggests that the issue is simply one of familiarity for most Americans.
"Their reaction to Cheryl is not to be confused with prejudice - it's purely logistical," he says. "If you think of how a really extreme Glaswegian accent sounds in London, that's what Cheryl Cole sounds like to an American.
"Americans have two British accents that they recognise - standard-issue received pronunciation and Cockney, as long as the latter isn't too pronounced. No-one over there can understand strong northern accents."
Indeed, Ms Cole is not the first North East celebrity to encounter such difficulties.
During Ant and Dec's short-lived stint as presenters of US game show Wanna Bet, which was filmed in LA during 2007, producers drafted in an interpreter to press a button every time the pair said something that he feared would baffle audiences.
By contrast, after winning an Oscar for his role in the King's Speech, Colin Firth's acceptance speech - delivered in textbook RP of which George VI himself would have been proud - was heard loud and clear by the crowd.

This is because US audiences tend to identify the British accent with notions of social standing and refinement rather than geographical location, according to London-based film critic Ray Bennett of the Hollywood Reporter magazine, who spent 30 years living in North America.

"I'm from Kent, and people would ask me if I knew the Beatles," he says. "They think a British accent is like that of Alistair Cooke. They aren't particularly conscious of regional differences.
"To them, an English accent is, basically, one that connotes class."
Nonetheless, a clutch of presenters with audible roots in the UK's nations and regions have managed to make themselves understood by US viewers.
Cat Deeley hosted the American reality show So You Think You Can Dance despite a vocal register shaped in Sutton Coldfield, and Bolton's Vernon Kay fronted ABC's Skating With The Stars.
Listen to Cheryl's radio interview. How much do you think you can understand her words?

Likewise, the Scottish comedian Craig Ferguson - with an accent shaped in Glasgow - has attracted millions of viewers hosting CBS's The Late Late Show since 2004.
For these reasons, Marina Tyndall, a voice coach specialising in accent and dialect, rejects the notion that some vocal styles are intrinsically clearer to American listeners than others.
She believes Cole should stick to her guns and resist all efforts to remake her accent as though she were some sort of North East Eliza Doolittle.
"Standing firm here is both principled and savvy," Tyndall says.
"Her accent is a big part of her identity and public appeal, and it's hard to imagine how a Pygmalionised Cole would go down with her existing fan base."
Cole, she says, could quite easily accommodate her accent to unfamiliar Stateside ears without abandoning it. Techniques she suggests include "chunking" words into shorter phrases with brief pauses, allowing listeners time to catch up - and using facial expressions and pitch changes to signpost key words.
And if all else fails, perhaps sheer novelty might win the audience over.

16 tháng 3, 2011

Some Slide-to-PDF files used in the Research Methodology Module







Here below are the links to download the slides I made for students studying the Research Methodology Module at the FOFL, HUST. 


For compatibility reasons, I had to convert all the slides made using Microsoft PowerPoint into the PDF file that I think are fully compatible with your systems. Just contact me if you need the slides that may be edited using Microsoft PowerPoint or OpenOffice Presentation.


Note that the slides (files) for the coming lessons will be added here as well. 


In case a password is required, use the one I gave you. Again, you can contact me for the password instead.




Chapter_2_Research Purposes.pdf

Chapter_2_Research Proposal.pdf

Qualitative Research_Chapter4.pdf

Content Analysis.pdf





11 tháng 3, 2011

TOEIC Listening and Reading Package (Level 1+2)




Dưới đây là link download giáo trình TOEIC Listening and Reading Package (Level 1+2). Giáo trình này hiện đang được sử dụng cho sinh viên các lớp NC2A/2B (TTĐTKSCLC - ĐHBK).

Giáo trình và Keys + Typescript:
  • Giáo trình: file PDF khoảng 18MB
http://www.mediafire.com/?zsc39if368bjihj
  • Keys + Tapescript: file PDF khoảng 8MB
http://www.mediafire.com/?8qy8l69cf92omfa

Audio files: được nén trong file ZIP:


Khuyến nghị: bạn nên mua giáo trình để đảm bảo tuân thủ các quy định về bản quyền.

10 tháng 3, 2011

New Headway Elementary - Student's Book (Ebook+Audio)



Dưới đây là đường link download giáo trình New Headway Elementary (Third Edition).


  • Giáo trình: dạng ebook PDF, khoảng 12MB (sẽ có bản scan chất lượng cao hơn sau)


NHE_Student.Book.pdf


  • Phần audio: file ZIP khoảng 58MB - phần 1 (sẽ sớm bổ sung phần 2)


Phần 1: NHE_ CD_1.zip
Phần 2: NHE_CD_2.zip 

Ngoài ra, các bạn nên tham khảo thêm tại website của NXB Oxford tại địa chỉ dưới đây. Tại địa chỉ này có nhiều phần bài tập cho người học tự luyện tập và thực hành.

http://www.oup.com/elt/global/products/headway/elementary/ 


Khuyến nghị: bạn nên mua giáo trình để đảm bảo tuân thủ các quy định về bản quyền.

4 tháng 3, 2011

NHẮN NHANH Ở ĐÂY

Bạn hãy nhắn nhanh cho VIETTIEN bằng cách phúc đáp lại bài này. 
Hoặc
Click vào đây nếu bạn muốn liên lạc riêng với VIETTIEN
Xin cảm ơn!

21 tháng 12, 2009

viettien ĐI VẮNG DÀI NGÀY.
HẸN GẶP LẠI SAU VÀI THÁNG NỮA.

CHÚC MỪNG NĂM MỚI!

6 tháng 11, 2009

VÌ HÁM LỢI, ĐẬP THỦY ĐIỆN XẢ LŨ GÂY HẠI CHO DÂN




Theo báo Tuổi trẻ, tối ngày 02/11/2009, "lũ dữ bất thần tràn về làm hàng vạn người dân Phú Yên phía hạ lưu sông Ba chỉ kịp leo lên nóc nhà".

(ảnh từ VietnamNet)

Đọc tin, xem cảnh lũ lụt và nhất nghe thông báo về những cái chết... thương xót đồng bào miền Trung quá! Tối qua nghe bài này trên RFI thấy thật buồn. Quan điểm trong bài phỏng vấn này là của một cá nhân, và có thể đúng có thể sai, có thể chưa đầy đủ nhưng không thể phủ nhận là nó có tính tham khảo cao.

viettien xin dẫn lại đây có kèm theo đoạn Audio cuộc phỏng vấn nêu trên.


-------------------------------

VÌ HÁM LỢI, ĐẬP THỦY ĐIỆN XẢ LŨ GÂY HẠI CHO DÂN





Nghe cuộc phỏng vấn

Bão số 11 khi đến Việt Nam đã giảm cường độ thành áp thấp nhiệt đới. Nhưng do yếu tố con người, tương tự như vụ xả đập A Vương cách nay vỏn vẹn có một tháng, một lần nữa người dân Việt Nam phải trả giá bằng chính sinh mạng của mình chỉ vì lòng tham không đáy của những kẻ khai thác tài nguyên thiên nhiên bất chấp hậu quả. 13 người dân thị xã Sông Cầu kém may mắn hoặc chậm chân đã bị lũ cuốn trôi ngay trong giây phút đầu tiên. Hàng chục thuyền đánh cá bị cuốn trôi, hàng vạn nhà dân bị ngập tận nóc trong lúc mưa đã tạnh mà nước vẫn dâng cao.

Bài học xả đập A Vương vào cuối tháng 9 trong lúc bão số 9 đổ bộ vào Việt Nam làm 170 người chết và hàng ngàn người bị thương không được các quan chức Việt Nam quan tâm. Trong khi đó, theo giới chuyên gia, các sai lầm từ cách vận hành đến cấu trúc hồ chứa nước đều có thể khắc phục được.

Sau đây là phân tích của chuyên gia Phạm Phan Long, thuộc Hội Sinh Thái Việt, California, Hoa Kỳ về trường hợp đập thủy điện A Vương.



Mục đích và nhu cầu của đập A Vương.

Theo tài liệu của Hội Đập Lớn và Phát Triển Nguồn Nước Việt Nam, A Vương được phê duyệt năm 2003 với tổng số vốn đầu tư là 4000 tỷ đồng VN hay 250 triệu USD. Nhiệm vụ chính thức của công trình là đáp ứng cho nhừng mục đích sau:

1. Phát điện với công suất 210 MW

2. Cắt lũ thượng nguồn sông Vu Gia, Thu Bồn

3. Điều tiết nước cho hạ lưu

4. Góp phần tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội cho các huyện phía tây tỉnh Quảng Nam.

A Vương đã thành công trong việc phát điện nhưng thất bại trong việc cắt lũ và điều tiết nước ngay trong mùa lũ đầu tiên sau khi được hoạt động.

Tai họa hồi cuối tháng 9.

Tai họa xả lũ đã xảy ra trong hai ngày 29 và 30/09/2009, khi cơn bão cấp 10 số 9 đang hòanh hành miền Trung, làm 48 người chết ở Kontum, 35 người tại Quảng Nam, 25 người ở Quảng Ngãi thì đập thủy điện A Vương ở Quảng Nam đã xả gần 150 triệu mét khối nước chồng lên, góp phần với lũ nhấn chìm hàng trăm nghìn dân ở hạ lưu sông Vu Gia và Thu Bồn.

Việc hồ thủy điện A Vương xả nước gây thảm họa lũ không phải là lần đầu, các hồ thủy điện tại Việt Nam đã xả lũ gây lụt lội như thế, vào tháng 10/2000, tôi đã lên tiếng trên một diễn đàn UNDP về việc các hồ chứa, nếu tích nước lại qúa nhiều trước đỉnh lũ có thể họ sẽ phải xả nước vào đúng đỉnh lũ gây thảm họa cho dân cư hạ nguồn.

Tiếc thay chỉ hai tuần sau đó, cùng một lúc, các đập Đa Nhim, Trị An, Thác Mơ và Dầu Tiếng tại Việt Nam đã xả nước vào giữa đỉnh mùa lũ. Năm đó, dân Căm Bốt cũng đã tố cáo đập Yali của Việt Nam xả nước xuống tỉnh Ratakiri gây cho họ nhiều tổn thất.

Tai họa này do những nguyên nhân và yếu tố nào gây ra?

Đây là câu hỏi then chốt mà các cơ quan chính phủ trong nước và công ty A Vuơng có bổn phận và trách nhiệm trả lời. Đến nay vẫn chưa có một tường trình khoa học nào được chính phủ chính thức công bố.

Trong khi chờ đợi chính phủ, những thông số và thông tin đã công bố về A Vương có thể tạm cho tôi đan cử ra một số nguyên nhân mà dân cư hạ nguồn A Vương phải chú ý như sau:

1) Bí ẩn về dung tích hồ chứa và tiêu chuẩn của chính phủ: Theo bản tin Tuổi Trẻ ngày 19/12/2008, phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã lưu ý ban giám đốc nhà máy A Vương “đánh giá, khảo sát bão, lũ trong quá trình vận hành để bảo đảm an toàn tuyệt đối hồ chứa nước dung tích 800 triệu m3”. Nhưng theo số liệu của Hội Đập Lớn Việt Nam dung tích hữu ích của hồ A Vương chỉ có 267 triệu m3, tổng dung tích là 343,5 triệu m3. Khả năng cắt lũ chỉ có 76 triệu m3 mà thôi, vào tần suất 10%, nghĩa là rất thấp.

Việc chính phủ cho phép dung tích hồ cho công ty A Vương có ít dung tích phong lũ như thế là một quyết định nguy hiểm, coi rẻ mối an tòan của trăm ngàn dân cư ở hạ nguồn. So tỉ lệ dung tích phòng lũ với dung tích hữu ích họat động thủy điện, A Vương chỉ có 28% phòng lũ trong khi Sơn La/Hòa Bình có đến 50% và Tam Hiệp 56%.

2) Quy trình vận hành A Vương của chính phủ có thể sai và thái độ của công ty A Vương có vấn đề: Ông Lê Đình Bản - phó tổng giám đốc Công ty A Vương giải thích: “Tin dự báo thường không chính xác. Nếu xả trước, mà mưa không to, lượng nước không tích được đến mực gia cường, ai chịu trách nhiệm?”

Trong một báo cáo xả lũ của Công ty A Vương, họ cho tổng lượng nước xả lũ đã làm nhà máy tổn thất lượng điện năng lên tới 110 triệu kWh, thiệt hại của nhà máy mất hơn 55 tỷ đồng! Một con số thiệt hại quá lớn cho nhà máy! Công ty A Vương đã công khai coi trọng lợi tức thủy điện hơn an nguy hạ nguồn, tự nhận đã không tin vào dự báo và họ đã tích nước quá đầy vào những ngày trước đỉnh lũ.

3) Nạn phá rừng lan rộng đã làm mất đi khả năng điều tiết nước ở thượng nguồn.

Theo bài của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trân đã viết trên mạng Người Đại Biểu Nhân Dân ngày 12/10 : ”Ai cũng biết nạn phá rừng đang là một tai họa đối với đất nước. Nhưng phải nhìn thấy những bãi gỗ trôi theo lũ về huyện Đại Lộc (Quảng Nam); cảnh một làng bị cát vùi lấp tất cả, thì mới thấy cụ thể quy mô của tai họa này, mới nhận ra hậu quả khủng khiếp của lòng tham đầy tội lỗi của lâm tặc, và sự bất lực của một bộ phận trong bộ máy quản lý nhà nước đã không giải quyết được tận gốc hiểm họa dai dẳng này. Lũ chảy về nhanh. Thêm lũ gỗ chảy xuống hồ A Vương tấn công lan can đập và đe dọa an tòan kiến trúc của đập tất nhiên họ phải xả lũ một cách vội vàng.

Có thể tránh được không? Tại sao lại để xảy ra tai họa.

Tai họa A Vương vừa qua vẫn hòan tòan tránh được mặc dù hồ có dung tích thấp nếu biết hy sinh dung tích thủy điện dành để phòng lũ. Ngay từ đầu mùa lũ, nếu A Vương ý thức và tin vào dự báo hạ nước hồ xuống dưới 50 triệu m3 vào ngày 27, thì họ đã có 300 triệu m3 để phòng lũ trong hai ngày 28 và 29 giữ an toàn cho dân tránh 600 tỉ thiệt hại tài sản.

Không những thế, sau đó A Vương vẫn có đủ nước họat động thủy điện và số thâu 50 tỉ đồng chỉ vài ngày sau đó cũng lấy lại không hề mất.

Tai họa xảy ra là do chính quyền trung ương đã cho phép hồ A Vương thiết kế thiếu dung tích phòng lũ an toàn, lập quy trình vận hành hồ coi rẻ phận sự cắt lũ. Công ty A Vương thiếu ý thức trách nhiệm và chính quyền địa phương không theo dõi các quyết định của trung ương và không theo sát vận hành của A Vương để tích cực bảo vệ dân cư.

Các lý giải của chính quyền và trí thức trong nước ?

Dựa vào những tài liệu tôi đọc, đến nay đã hơn 1 tháng rồi, chính quyền vẫn chưa công bố một lý giải nào cho sự việc này.

Thật không ngờ tiến sĩ Nguyễn Tri Trinh trên mạng VNCOLD ngày 19/10 đã khẳng định rằng A Vương đã điều hành hồ đúng căn cứ pháp lý và kết luận rằng không có A Vương hạ lưu sẽ bị ngập lụt xấu hơn. Tôi nhìn từ góc độ nạn nhân nên hoàn toàn nghi ngờ tính cách khách quan khoa học của thông tin này.

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trân viết ngày 12/10 cho rằng: Chính phủ không kiểm sóat được lâm tặc và không bảo tồn tài nguyên đất nước mà còn khuyến khích khai thác triệt để cạn kiệt tòan diện tiềm năng thiên nhiên. Tôi đồng ý với tiến sĩ Trân dù không quen biết ông, cả ba yếu tố tôi nêu ra bên trên đều quy tụ vào chính phủ đã cho phép khai thác thủy điện ồ ạt và tắc trách, chấp thuận các công trình đầu tư thiếu an toàn và còn lập trình để họ vận hành bừa bãi mà hậu quả là tai họa dân phải hứng chịu hoàn toàn.

Bài học rút ra từ A Vương ?

Dân cư Quảng Nam phải tiếp tục sống dưới đe dọa A Vương cần yêu cầu chính phủ cấm ngay việc phá rừng và xây thủy điện để làm những việc sau:

1) Giảm dung tích họat động của hồ A Vương xuống chỉ được chứa đến 100 triệu m3 khối cho thủy điện vào mùa lũ sắp tới. Phải để riêng 250 triệu m3 ra cho việc phòng lũ. Khối dung tích này là vùng cấm địa và nếu cần theo dự báo có thể còn phải tăng hơn nữa để bảo vệ đập lần bảo vệ dân. Xét lại quy trình vận hành dành ưu tiên một là chống lũ thay vì lo tổn thất phát điện.

2) Công ty A Vương cần bồi thường nạn nhân ngay và bảo hiểm các tai hại về sau nếu tái diễn.

3) Xét lại tất cả các dự án thủy điện trên tòan đất nước và quy trình vận hành để tránh tai họa A Vương tái diễn tại những hồ chứa khác.

4) Lập ra một nhóm điều tra kỹ thuật độc lập có thẩm quyền xem xét thiết kế, quy trình điều hành các dự án thủy điện dể rút ra các bài học.

5) Bạch hóa kết quả điều tra cho dân cư hạ nguồn của tất cả các đập thủy điện.

Kết luận

Ông Trương Duy Nhất đã viết trên mạng: “Mùa bão lũ vẫn chưa qua. Ý thức quan chức vùng lũ sẽ còn tiếp tục được… thủ thách. Bão lũ không hẳn chỉ là sự tàn phá. Nhiều khi chỉ nhờ vào bão lũ mới nhìn nhận, đánh giá chân xác được ý thức trách nhiệm và… tầm vóc quan chức.”

Tôi cho rằng tai họa A Vương là một tiếng chuông báo động. Sai trái lần đầu có thể tha thứ, nhưng lần sau, lũ sẽ cuốn đi cả lòng tha thứ trong các con tim nạn nhân từ bi nhất.


Tú Anh


22 tháng 10, 2009

Trót lớn!

VÀI NÉT VỀ ĐỊA DANH CỦA NƯỚC ANH







Trong ngôn ngữ học, bộ môn chuyên nghiên cứu về tên riêng là Danh xưng học (Onomastics) với hai chuyên ngành Nhân danh học (Anthroponomastics) – nghiên cứu tên về người và Địa danh học (Toponomastics) – nghiên cứu về tên đất. Tại Việt Nam, Danh xưng học vẫn còn là một ngành mới mẻ cho dù nó đã ra đời trên thế giới từ hàng trăm năm nay. Thậm chí nhiều chuyên gia ngôn ngữ còn chưa hiểu đúng và đầy đủ về giá trị của Danh xưng học đối với ngôn ngữ học nói chung và với việc giảng dạy ngoại ngữ nói riêng. Dưới ánh sáng của bộ môn Danh xưng học mà cụ thể là Địa danh học, bài viết bước đầu tiếp cận vấn đề địa danh của nước Anh (England) trên các mặt lịch sử, cấu tạo và ngữ nghĩa. Ngoài ra, bài viết cũng đưa ra một danh sách các địa danh tương đối quen thuộc tại nước Anh song lại có cách phát âm không hoàn toàn tuân theo các quy tắc ngữ âm của tiếng Anh hiện đại.
In linguistics, Onomastics is the study or science of the history, origin and formation of proper names. Onomastics is divided into anthroponomastics, the study of personal names, and toponomastics, the study of place names. Despite having been well-known in the international academic community for years, this science has been still baffling in Vietnam. Some linguists uphold improper or even mistaken understanding of the onomastic significance over linguistics in general and foreign language teaching in particular. In the light of toponomastics, this paper presents an introductory study of English place-names on historical, structural and meaning aspects. Besides, the paper provides a list of comparatively popular English place-names with unusual or bizarre pronunciations in reference to the Received Pronunciation standard.


1. DẪN NHẬP
Trong quá trình giảng dạy tiếng Anh nói chung và các môn văn hóa – văn minh nói riêng, không ít lần các giáo viên tiếng Anh cảm thấy bối rối với nhiều tên gọi được dùng ở nước Anh. Là những người tâm huyết với nghề, nhất định họ sẽ cất công tìm kiếm câu trả lời thỏa đáng cho cho vấn đề gặp phải. Khi đó, dù chủ quan hay khách quan, họ đã ít nhiều tham gia vào một ngành nghiên cứu mà ngôn ngữ học gọi là Danh xưng học (DXH).
Tuy nhiên, cũng không ít các chuyên gia ngôn ngữ tại Việt Nam còn có cái nhìn chưa thỏa đáng về giá trị của DXH với ngôn ngữ học nói chung và với việc giảng dạy ngoại ngữ nói riêng. Trong khuôn khổ của bài viết này, sẽ lạc đề nếu người viết sa đa vào việc chứng minh lợi ích của DXH. Tuy nhiên, để người đọc dễ hình dung về vai trò của ngành khoa học chuyên nghiên cứu về tên riêng, chúng tôi xin nêu ra 2 ví dụ.
VD1: Chúng ta hãy đặt mình vào địa vị một người Việt tên là Dung /dzuŋ/. Với hiểu biết tương đối về tiếng Anh, anh ta sẽ cảm thấy như thế nào khi một người Anh, vốn là một chuyên gia tiếng Việt, thậm chí còn là giáo viên tiếng Việt lâu năm, cứ phát âm tên anh ta là /dʌŋ/*
VD2: Hầu hết người học tiếng Anh đều biết đến tên con sông nổi tiếng chảy qua thủ đô Vương quốc Anh. Chúng ta đều biết đó là sôngThames, con sông gắn với thủ đô London tựa như sông Hồng gắn với thủ đô Hà Nội vậy. Tuy nhiên, có thể khẳng định, phần lớn người học tiếng Anh, thậm chí cả giáo viên tiếng Anh (trong đó có những người rất nổi tiếng về trình độ ngoại ngữ uyên thâm) đều phát âm không chính xác tên con sông này. Đa số đều cho là sông Thames được phát âm là /θeɪms/. Tuy nhiên, sẽ là rất ngạc nhiên cho nhiều người, sông Thames được người Anh phát âm là /tεmz/.


Qua hai ví dụ nêu trên, chắc chắn nhiều người đã phần nào từ bỏ nghi ngờ về vai trò của DXH với việc giảng dạy ngoại ngữ, đặc biệt là đối với các môn về văn hóa và văn minh. Thực ra, tên riêng (tên người và tên đất) cũng chỉ là một lớp từ (danh từ) nằm trong vốn từ vựng chung của một ngôn ngữ cụ thể. Với tư các của những người học và dạy ngoại ngữ, chúng ta đều thống nhất ở nhận định: học từ vựng là một phần không thể thiếu được trong việc học ngoại ngữ.
Một địa danh chỉ đơn giản là một cái tên nhưng việc tìm hiểu những gì đứng sau cái tên đó thực sự vô cùng phức tạp. Nghiên cứu tên riêng nói chung và địa danh nói riêng đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức tổng hợp về lịch sử, ngôn ngữ, phương ngữ, ngữ pháp, âm học, địa hình học và rất nhiều yếu tố liên quan khác.

2. ĐÔI ĐIỀU VỀ LỊCH SỬ ĐỊA DANH CỦA NƯỚC ANH
Có thể coi lịch sử địa danh của nước Anh là một phần không thể thiếu của lịch sử đất nước này. Câu chuyện về địa danh ở nước Anh là một câu chuyện dài và rất phức tạp. Theo Stenton & Mawer (1933) và Mills (2003), có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới quá trình hình thành địa danh tại Anh. Tuy nhiên, những yếu tố quan trọng nhất chủ yếu đến từ các ngôn ngữ châu Âu. Các cuộc xâm lăng từ lục địa châu Âu cùng với việc các dân tộc từ Bắc Đức, Bắc Âu và vùng Normandy tới định cư tại hòn đảo Anh đã để lại nhiều dấu vết sâu đậm trên địa danh tại Anh. Do vậy, cùng với tiếng Anh cổ, tiếng Celtic, tiếng Gaelic, địa danh tại Anh còn có nguồn gốc từ tiếng Latin, tiếng Na Uy cổ và tiếng Pháp. Mỗi một ngôn ngữ đều mang tới nước Anh những địa danh nhất định và để lại ảnh hưởng của nó trên những địa danh còn tồn tại tới ngày nay. Điều này khiến địa danh tại Anh vừa phong phú vừa phức tạp.
Những địa danh cổ nhất tại Anh có lẽ là các tên có từ trước thời kì người Celtic đến đảo Anh (thế kỉ thứ IV trước CN). Thậm chí theo Mills (2003: xvii), có những tên đã có từ thời kì đồ đá mới. Tên các con sông như Colne, Itchen, Ouse và Wey là những ví dụ về địa danh có từ thời kì này.
Tiếp đến là thời kì người La Mã đô hộ (đầu CN đến thế kỉ V). Các tên La Mã đã gần như không còn nhưng lại xuất hiện hàng loạt các tên do người Briton (nói tiếng Celtic) hoặc Anglo-Saxon đặt ra khi tiếp xúc với các yếu tố La Mã. Reaney (1960: 79-80) đưa ra ví dụ về các yếu tố như chester hay caster. Theo Reaney, đây là các yếu tố chỉ thành lũy hay pháo đài của quân La Mã. Nhiều nghiên cứu gần đây (Coates 1999, Mills 2003) cho rằng các địa danh nổi tiếng như London, Thames hay York đều ra đời trong thời kì này.
Ngày nay, rất nhiều địa danh tại Anh có nguồn gốc từ tiếng Anh cổ. Theo Crystal (2003: 8, 160), về cơ bản tiếng Anh cổ là tập hợp của các phương ngữ do người Angle và Saxon nói. Sau sự rút đi của người La Mã vào khoảng giữa thế kỉ thứ V, các tộc người Angle, Saxon, Frisian and Jute từ Bắc Đức bắt đầu di cư tới nước Anh và cùng với đó nhiều địa danh mới đã ra đời. Reaney (1960) và Mills (2003) cho rằng các địa danh có nguồn gốc tên người như Cornwall, Northumberland, nơi cư trú như Kingston, Tonbridge, hay mang yếu tố địa hình như Straford-Upon-Avon, Upwood v.v đều cơ bản bắt đầu xuất hiện trong thời kì này (xem thêm Elliott 1997).
Ảnh hưởng tiếp theo đến địa danh tại nước Anh đến từ các bộ tộc sống ở Bắc Âu (nói tiếng Na Uy cổ). Khoảng đầu thế kỉ thứ IX, người Viking bắt đầu gia tăng ảnh hưởng của họ tới nước Anh. Smithard (1912: 139-44) cho rằng ở những nơi định cư, các bộ tộc bắc Âu này thay đổi các tên có trước, đặt ra các tên mới, hoặc gọi chệch đi các tên Anh có từ trước. Các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng yếu tố “by” trong các tên như Derby hay Kirkby là một đóng góp nổi bật của các tên có gốc Bắc Âu vào hệ thống địa danh của nước Anh.
Ảnh hưởng lớn cuối cùng đến địa danh tại Anh là chiến thắng của người Norman năm 1066. Sau sự kiện này, cũng có nhiều tên mới xuất hiện nhưng thực ra thay đổi lớn nhất của địa danh lại nằm cách phát âm các tên đã có. Người Norman cảm thấy không thoải mái khi phát âm địa danh theo kiểu của người Anh. Do vậy, họ đã biến đổi cách phát âm các tên Anh sao cho dễ dàng với họ. Các tên như Nottingham và Durham là kết quả của các biến âm này. Ekwall (1960: xxviii) và Cameron (1961: 92) cho rằng tên gốc của Nottingham và Durham lần lượt là Snotingham và Dunholme.
Các chuyên gia nghiên cứu đều thống nhất rằng kể từ sau thế kỉ XII tới nay, địa danh tại Anh không có nhiều biến động lớn như những thời kì trước đó. Trong khi ngôn ngữ Anh vẫn biến đổi và phát triển mạnh mẽ nhiều thế kỉ sau đó thì địa danh, với tư cách là một đơn vị từ vựng, lại tham gia rất hạn chế vào quá trình này.
Như vậy, quá trình phát triển của địa danh tại nước Anh gắn chặt với quá trình hình thành tiếng Anh và dân tộc Anh. Khi nước Anh đã cơ bản được hình thành thì đó cũng là lúc địa danh tại Anh đi vào ổn định.

3. PHÂN LOẠI ĐỊA DANH
3.1 Dựa trên cấu trúc
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, dựa trên bình diện cấu trúc, địa danh tại Anh có thể chia làm 2 loại: đơn tố (simplex) và đa tố (compound). Nhóm địa danh đơn tố thường là các tên mang dấu ấn địa phương, mô tả một đặc điểm nổi bật nào đó của cảnh vật tự nhiên như các ngọn đồi hoặc thung lũng, hay di tích như các pháo đài La Mã hoặc nơi hành lễ thời tiền sử. Elliott (1997) đưa ra các ví dụ dưới đây:
  • Chester, Caster có nghĩa là “pháo đài” hoặc “doang trại” La Mã.
  • Tees, Avon và Aber có nghĩa là “nước” (sông Tees, sông Avon).
Ngoài ra , theo Mills (2003: 75) địa danh đơn tố còn gồm cả những nơi gần hoặc thuộc về một làng, một cộng đồng người nào đó. Ví dụ:
  • Bootle có nghĩa là “nơi ở” (tại vùng Merseyside)
  • Wick có nghĩa là “chỗ ở”, “nông trại”, hoặc “chợ” (tại vùng Devon).
Trên bình diện cấu trúc, loại địa danh thứ hai là đa tố (địa danh phức). Cấu tạo của loại địa danh này thường gồm một yếu tố có tính chất tính từ kết hợp với một (hoặc hơn một) yếu tố chỉ địa hình hoặc nơi cư trú. Phần lớn địa danh tại nước Anh thuộc nhóm này và hình thành trong giai đoạn người Anglo-Saxon thôn tính hòn đảo Anh. Dưới đây là một vài ví dụ trích từ Từ điển Địa danh nước Anh của Mills (2003):
  • Bredon, Penwith: tiền tố bre-pen- trong tiếng Anh cổ đều có nghĩa là “hill” (ngọn đồi).
  • Charton: hậu tố -ton có nghĩa là “nông trại” còn “Charl” có gốc từ từ cổ “churl” có nghĩa là “người đàn ông”.
  • Oldham, Shoreham: hậu tố -ham trong tiếng Anh cổ có nghĩa là “thuộc về nhà cửa hoặc làng mạc”.
  • Rottingdean, Saltdean, Bbevendean: hậu tố -dean chỉ “thung lũng”.
  • Manchester, Lancaster: hậu tố -chester, -caster chỉ doang trại của quân La Mã.
  • Dundee, Duncombe: tiền tố dun- chỉ “pháo đài”.
3.2 Dựa trên chức năng
Trong một nghiên cứu đưa ra năm 1997, Elliott cho rằng nếu xem xét địa danh tại nước Anh trên bình diện chức năng, có thể thấy có 3 nhóm tên chính: tên có nguồn gốc tên người (folk name), tên gắn với nơi cư trú (habitative name) và tên dựa trên địa hình (topographic name).
Về các địa danh có nguồn gốc tên người, đây thường là tên của một dân tộc hoặc nhóm người sinh sống trên địa bàn mang tên. Ví dụ, vùng Sussex được hiểu là “vùng sinh sống của người Saxon ở phía nam. Cách giải thích cho Essex, Wessex và Middlesex cũng tương tự như vậy với ý nghĩa tương ứng là “phía đông, phía tây và miền trung” (xem Coates, 1983, 1999). Những địa danh loại này thường rất cổ và không phải người Anh nào cũng biết về nguồn gốc của chúng.
Nhóm địa danh thứ hai là các tên gắn với nơi cư trú của người Anh. Loại địa danh này có thể là các tên đơn tố cũng có thể là tên đa tố. Các địa danh thuộc nhóm này rất phong phú, đa dạng. Chúng có thể chứa các yếu tố liên hệ đến nhà cửa, nông trại, xóm làng, thành lũy v.v. Theo từ điển trực tuyến AskOxford.com của NXB Oxford, trong các tên loại này, yếu tố thứ hai bao giờ cũng mô tả nơi cư trú. Ví dụ các yếu tố ham - nhà cửa, worth - hàng rào, wīc - nơi ở, burh - thành lũy, tūn - trang trại trong tiếng Anh cổ, bý - nông trại và thorp - ngoài nông trại trong tiếng Na Uy cổ trong các địa danh như Seaham, Streatham, Middleton, Redworth, Lulworth, Ipswich, Didcot, Aylesbury, Grimsby, and Woodthorpe. Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng những yếu tố mô tả nơi cư trú thường mang nhiều ý nghĩa do được dùng ở nhiều địa phương khác nhau, trải qua nhiều thời kì phát triển, hoặc do kết hợp với những yếu tố khác. Chẳng hạn, hậu tố tūn (ton) trong tiếng Anh cổ có nghĩa là “hàng rào” trong một số tên trong khi đó lại có nghĩa là “xóm làng, nông trại, nhà cửa” trong một số tên khác.
Bên cạng các nhóm địa danh có nguồn gốc tên người và nơi cư trú, nhóm địa danh hình thành theo địa hình cũng có số lượng rất phong phú. Watts (2004) cho rằng về nguồn gốc, đây là những tên có tính chất mô tả về địa hình sinh sống của người Anh cổ. Chúng có thể là đặc điểm của địa hình tự nhiên nhưng cũng có thể là những đặc điểm do con người tạo ra. Chính vì vậy ta có thể gặp các tên sông, suối, hồ, ao, rừng, núi, thung lũng trong rất nhiều các địa danh tại Anh như Oxford, Bakewell, Fulbrook, Goodwood, Moulsecoomb, Airedale, Sheffield, Liverpool v.v. Trong các tên loại này, yếu tố thứ 2 thường mô tả địa hình sinh sống như -ford - suối cạn, -coomb hoặc -dale - thung lũng.
Nói tới ý nghĩa của địa danh ở đây là nói tới nghĩa từ nguyên học chứ không phải nghĩa từ vựng thông thường. Nhìn suốt lịch sử nước Anh và tiếng Anh, ta thấy ý nghĩa của các từ chỉ địa hình không phải là không thay đổi ở các địa phương khác nhau. Trên thực tế, chúng thay đổi theo các giai đoạn của lịch sử trong suốt thời trung cổ. Chẳng hạn, theo Mills (2003), yếu tố feld trong tiếng Anh cổ có nghĩa là “đất vô chủ” sau này thay đổi thành “đất có chủ”, yếu tố wald là “rừng” đổi thành “vùng cao”, yếu tố ēah cũng là “rừng” sau này đổi thành “vùng khai hoang” rồi “đồng cỏ”. Việc lựa chọn và xác định xem nghĩa từ nguyên của một địa danh nào đó là gì đòi hỏi người nghiên cứu phải xét đến các yếu tố như địa chính trị trong khu vực, bản chất ngôn ngữ của từ ghép và cả tuổi của địa danh.

4. Ý NGHĨA CỦA ĐỊA DANH
Nói tới địa danh, ta thấy chúng vừa như quen vừa như lạ. Quen là vì ta dùng chúng để gọi tên các địa điểm mỗi khi cần. Khi đó chúng hoạt động như là những nhãn mác thông thường. Lạ là vì địa danh nào cũng chứa trong nó những yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử mà không phải ai cũng nắm vững. Địa danh tại nước Anh cũng vậy. Cũng như ngôn ngữ và đất nước Anh, chúng là một phần của di sản văn hóa Anh.
Reaney (1960: 1-17) nhận xét rằng nhân sinh quan và thế giới quan của người Anh thời xa xưa được thể hiện khá rõ nét qua các địa danh. Hình ảnh của các ngọn đồi, thung lũng, con suối, con sông, hồ nước, rừng cây thường xuyên xuất hiện trong các địa danh. Các yếu tố quan trọng với người nông dân cũng được lấy làm địa danh như chất đất, mục đích sử dụng đất, độ nông sâu của sông suối, đồng cỏ cho gia súc, đất khai hoang trồng trọt, sự hiện diện của các loài vật ăn thịt như cáo, chó sói, các loài cho thịt, sữa, lông như bò hoặc cừu v.v.*
Câu hỏi “Cái tên này nghĩa là gì?” chắc đã không ít lần vang lên trong đầu chúng ta. Chẳng hạn, đối với tên thủ đô Hà Nội, hầu hết người Việt Nam đều biết biết ý nghĩa gốc của nó là “mảnh đất phía trong sông” hoặc “mảnh đất giữa các dòng sông”. Tuy nhiên, nếu đi về phía tây của Hà Nội trong bán kính vài chục cây số, hàng loạt các địa danh chỉ có một tiếng (một âm tiết) như (cầu) Giấy, Diễn, Nhổn, Trôi, Phùng, Chèm, Gạch chắc chắn sẽ làm nhiều người bối rối.
Trở lại với tiếng Anh, tương tự như trên, rất nhiều người nước ngoài học tiếng Anh và thậm chí cả người Anh bản xứ cũng không ít lần tự hỏi tại sao lại có những tên kì lạ như Great Snoring, Blackburn, Thong hay Penistone, rồi nghĩa của Coldean hay Fiveways là gì, hoặc nguồn gốc cả các tên như Liverpool, Bath, hay Winsor là ở đâu, rồi tại sao yếu tố -ham, -bury hay -ton thường xuất hiện trong các địa danh.
Thực ra, tất cả các địa danh và yếu tố cấu thành địa danh nêu trên đều có nghĩa gốc, hay nói cách khác là có nguồn gốc riêng của chúng. Nếu nói một cách hình tượng thì nguồn gốc và ý nghĩa của chúng “ẩn nấp” phía sau hình thức từ vựng hiện đại của chúng. Mặc dù có nguồn gốc từ các đơn vị lời nói, do tổ tiên xa xưa của người Anh sáng tạo ra để gọi tên (mô tả) nơi sinh sống và các mối liên hệ với nơi sinh sống, hầu hết các địa danh trong quá trình phát triển của mình đã mất đi ý nghĩa ngôn ngữ và chỉ còn hoạt động với tư cách như vỏ bọc hay nhãn mác mà thôi. Điều này cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu ta biết rằng phần lớn địa danh đều có hàng nghìn năm tuổi và chúng thuộc về những lớp từ vựng của tiếng Anh cổ hay các ngôn ngữ cổ và trung cổ khác.
Điều rất thú vị là, khác với các đơn vị từ vựng thông thường, nhiều địa danh đã thay đổi rất ít, hoặc thậm chí không thay đổi suốt nhiều thế kỉ qua. Mills (2003) và Coates (1999) cho rằng nhìn vào các địa danh đó ta vẫn ít nhiều đoán định được nghĩa gốc của nó dựa trên các yếu tố từ vựng hiện đại. Các tên như Claybrooke, Horseheath, Nettlebed, Oxford, Saltmarshe, Woodbridge, Sandford hay Oldland là các ví dụ điển hình.
Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể xác định được nguồn gốc của địa danh đơn giản qua biểu hiện bên ngoài của các yếu tố từ vựng. Nếu không xem xét kĩ các yếu tố từ nguyên học, hình thức hiện đại của địa danh đôi khi sẽ đánh lừa chúng ta. Watts (2004) dẫn ra các ví dụ về nghĩa gốc của các địa danh như Easter là “chuồng cừu, bãi chăn thả cừu”, Slaughter là “(chỗ) lầy lội”, Swine là “khe, lạch” và Wool là “con suối”. Quả thực, nếu chỉ xét về vỏ bọc từ vựng hiện đại thì người nghiên cứu sẽ không thể tìm ra ý nghĩa gốc của những địa danh nêu trên vì chúng là những từ cổ, tồn tại dưới dạng “hóa thạch” trong vỏ bọc địa danh và các nghĩa cổ không còn được sử dụng trong giao tiếp hiện đại nữa.
Bên cạnh đó, theo Reaney (1960: 17-18) có nhiều tên khác nhau về chính tả nhưng lại có thể chung ngồn gốc. Chẳng hạn, Aldermaston và Alderminster đều chỉ “trang trại của quý tộc”, Chiswick và Keswick đều là “chỗ làm pho-mát” và Naunton, Newington, Newnton, Newton hay Niton đều là “trang trại mới”.
Dù là đối với tên đất hay tên người, muốn xác định được nghĩa gốc tên, người ta phải tiếp cận được những lớp ngôn ngữ nằm sâu dưới giá trị bề mặt của tên. Nghiên cứu địa danh của nước Anh trước hết đòi hỏi phải khảo sát kĩ lưỡng các yếu tố chính tả và đặt chúng trong quá trình biến đổi ngữ âm của các phương ngữ và ngôn ngữ Anh. Song song với đó, phải thực hiện những so sánh toàn diện giữa những tên giống nhau để tìm ra những tương đồng cũng như dị biệt. Cuối cùng, mọi nghiên cứu về địa danh phải dựa trên nền tảng kiến thức liên ngành về ngôn ngữ, lịch sử và địa lý.

5. VẤN ĐỀ PHÁT ÂM ĐỊA DANH
Như đã trình bày ở trên, địa danh là một loại từ đặc biệt nằm trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ. Do vậy, cách phát âm địa danh cũng nằm trong quy luật phát âm chung của ngôn ngữ đó. Địa danh tại nước Anh cũng vậy. Tuy nhiên, bên cạnh phần lớn các tên được phát âm theo quy tắc, lại tồn tại những địa danh có cách phát âm rất đặc biệt. Foster (1981: 7) cho rằng kết quả của hàng nghìn năm chịu tác động của nhiều yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, chính trị, địa lí v.v đã làm cho địa danh tại nước Anh không những phong phú về số lượng mà còn đa dạng về phát âm.
Trên thực tế, tại nước Anh, rất nhiều tên thành phố hoặc làng mạc có cách phát âm làm không ít người học tiếng Anh cảm thấy bối rối. Nếu phát âm những địa danh này theo các nguyên tắc phát âm thông thường thì chắc chắn người học tiếng Anh, dù nắm rất vững về ngữ âm, sẽ vẫn phát âm không chính xác. Cách phát âm tên sông Thames như đã đề cập tới ở trên là một trong những ví dụ điển hình. Có thể coi như đây là một loại bẫy ngôn ngữ mà rất ít người học tiếng Anh như một ngoại ngữ có thể thoát khỏi
Trong quá trình thu thập tư liệu để thực hiện bài viết này, chúng tôi đã có cơ hội đối chiếu thực tế cách phát âm địa danh của hai đối tượng: người Anh bản xứ và sinh viên nước ngoài đang học tập tại Anh. Kết hợp với việc tham khảo từ điển phát âm địa danh của Miller (1971) và Foster (1981) cùng tài liệu nghiên cứu của GS. Richard Coates thuộc ĐH Sussex, chúng tôi xin đưa ra một danh sách những địa danh tương đối quen thuộc tại nước Anh nhưng có cách phát âm khác thường. Cách phát âm RP (Received Pronunciation) và cách phát âm BBC được sử dụng làm chuẩn mực để đối chiếu cho cách phát âm các địa danh dưới đây (sắp xếp theo thứ tự ABC).


6. KẾT LUẬN
Rõ ràng các địa danh của nước Anh chứa đựng trong chúng nhiều yếu tố bí ẩn nhưng nếu được giải mã thì sẽ rất thú vị. Với lịch sử lâu dài (có rất nhiều tên đã tồn tại hàng nghìn năm nay), địa danh của nước Anh đã trở thành đối tượng nghiên cứu của không chỉ ngôn ngữ học mà còn của nhiều ngành khoa học xã hội – nhân văn khác. Dù được kết cấu đơn tố hay đa tố, dù có chức năng trực chỉ tên người, địa bàn cư trú hay tính chất địa hình, địa danh của nước Anh cũng luôn phản ánh cái nhìn rất đặc thù của người Anh trước đây với mảnh đất nơi họ sinh sống. Về mặt phát âm, do chịu ảnh hưởng của nhiều ngôn ngữ khác nhau trong một thời gian dài (thậm chí có ngôn ngữ đã trở thành tử ngữ), khá nhiều địa danh của nước Anh còn lưu giữ trong chúng những yếu tố ngữ âm cổ mà ngày này không còn thấy trong tiếng Anh hiện đại.
Trong khuôn khổ của một bài viết, để có thể trình bày cặn kẽ mọi khía cạnh của vấn đề địa danh tại nước Anh là rất khó khăn. Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng bài viết có thể cung cấp cho những người đang và sẽ hoạt động trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh một số thông tin bổ ích. Ngoài ra, chúng tôi cũng mong muốn gợi lên mối quan tâm của độc giả đến ngành DXH – một ngành khoa học còn tương đối mới mẻ tại nước ta.

Nguyễn Việt Khoa

---------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu in giấy
Cameron, K. (1961). English Place­-Names. London: B.T. Batsford.
Coates, R. (1983). The Linguistic History of Early Sussex: the Place-Name Evidence. Brighton: University of Sussex.
Coates, R. (1999). Place-Names before 1066. Chichester: Phillimore.
Crystal, D. (2003). The Cambridge Encyclopedia of the English Language. Cambridge: Cambridge University Press.
Ekwall, E. (1960). The Concise Oxford Dictionary of English Place­-Names. Fourth edition. Oxford: Oxford University Press.
Elliott, K. (1997). A Survey of the History of English Place­-Names. Sussex University Library: Dame Cateline de la Mor la souriete.
Foster, K. (1981). A Pronouncing Dictionary of English Place-Names. London: Routledge and Kegan Paul.
Miller, G.M. (1971). BBC Pronouncing Dictionary of British Names. London: Oxford University Press.
Mills A.D. (2003). A Dictionary of British Place-Names. London: Oxford University Press.
Reaney, P.H. (1960). The Origins of English Place­-Names. London: Routledge and Kegan Paul.
Smithard, W. (1912). Place-names at or near Derby. Journal of Derbyshire Archeological and Natural History Society, 34: 139-144.
Stenton, F.M. & Mawer, A. (1933). Introduction to the Survey of English Place-Names. Cambridge: Cambridge University Press.
Watts, V. E. (2004). The Cambridge Dictionary of English Place-Names. Cambridge: Cambridge University Press.
Tài liệu điện tử
List of names in English with non-intuitive pronunciations. Wikipedia. Tham khảo ngày 27/05/2006. http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_names_in_English_with_non-intuitive_pronunciations
What's in a Name. AskOxford.com. Tham khảo ngày 27/05/2006. http://www.askoxford.com/worldofwords/name/placenames/?view=uk
* Trong tiếng Anh, từ “dung” /dʌŋ/ có nghĩa là “phân gia súc”.
1 Cách phát âm khác: /’saɪrən.sɛstə(r)/
2 /’lɛntwən(r)daɪm/

19 tháng 10, 2009

Bàn thắng kì lạ!




Thật khổ thân các cổ động viên của Liverpool.



Watch Bàn thắng kì lạ! in Comedy  |  View More Free Videos Online at Veoh.com

Họ có thể đổ lỗi cho trọng tài nhưng họ không thể phủ nhận rằng quả bóng bay đó là do một cổ động viên nhí của Liverpool ném vào.

 
Adapted and Bloggerised by VIETTIEN | Since 2007 | Designed by Lasantha Bandara