Hiển thị các bài đăng có nhãn ÂM NHẠC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ÂM NHẠC. Hiển thị tất cả bài đăng

23 tháng 11, 2011

CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN DƯỚI GÓC ĐỘ NGỮ PHÁP

VIETTIEN: Một bài viết công phu về nghệ thuật ca từ của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn thể hiện qua các bài hát sâu lắng của ông. Đứng trên góc độ ngữ pháp, tác giả Trần Kim Phượng đã có những tìm tòi, khám phá khá thú vị về cách mà người nhạc sĩ tài hoa "làm phép" với ngôn từ trong các bài hát nổi tiếng của ông. 

- Có thể đọc online tại đây (nếu khó đọc file PDF nhúng ở trang này)
- Có thể download tại đây (khoảng 30MB).




VIETTIEN chưa có điều kiện xin phép TS. Trần Kim Phượng để đăng bài tại đây. Tuy nhiên, hy vọng tác giả sẽ đồng ý vì lý do học thuật!

[Bài đã đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ của Viện Ngôn ngữ học, số 10/2011]

15 tháng 8, 2009

TRỊNH CÔNG SƠN VÀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM







Đây là chương IV trong cuốn sách mang tên Trịnh Công Sơn Vết Chân Dã Tràng của tác giả Ban Mai. Chính phần gây tranh cãi này đã khiến cuốn sách bị UBND tỉnh Bình Định đình chỉ phát hành.

"Với tôi, tôi đồng cảm cùng suy nghĩ của Trịnh Công Sơn, bởi vì đứng trên góc nhìn dân tộc, cái chết nào cũng đau xót như nhau. Vì tất cả đều chung giòng máu Lạc Hồng." Với người mẹ, cái chết của bất cứ đứa con nào cũng đều đau đớn như nhau.

Sự thật thì vẫn vậy nhưng nói lên sự thật như thế nào thì có nhiều cách khác nhau. Ban Mai đã chọn cách bày tỏ không phù hợp với quan điểm của những người nắn "dòng chảy" chính. Vậy thôi!



-------------------

Chương IV. TRỊNH CÔNG SƠN VÀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM


Mở đầu tập Ca khúc da vàng viết năm 1967, Trịnh Công Sơn bày tỏ nỗi đau thống thiết: “Tất cả đã bể, đã vỡ toang. Tiếng thét đã chìm xuống biển thành tiếng nói trầm tư, thành lời kêu uất về thân thế Việt Nam. Tiếng nói vang lên từ những hố bom đào lên cùng khắp. Ơi những bạn bè thân yêu đã chết từ đỉnh cao hay vực thẳm. Con người đã hóa thân làm vết thương. Cái chết hóa thân làm biểu tượng vô nghĩa. Đã biến hình đổi dạng từ những cơn hiểm họa cay nghiệt nhất của nhân loại. Lìa cha mẹ, anh em, bằng hữu yêu dấu vô cùng. Hãy kết hỏa châu làm đèn đãi ngộ quỷ dữ. Đốt đuốc cho người điên ấm phố mùa đông. Cả một hành trình hùng vĩ của giống nòi từ miền Triết Giang đổ về bây giờ như thế đó. Hỡi người yêu da vàng của tôi hãy duỗi tay thật dài về phía hố thẳm vốc lấy những hạt đất mềm mỏng đó mà hôn. Tôi sẽ làm người tiều phu đi nhặt từng cánh tay, bàn chân, từng đốt xương, sọ người vung vãi khắp nơi về làm củi đốt sáng cho đêm tìm lại dấu vết của một hành tinh Việt Nam da vàng bặt tăm. Ám khí dày đặc, làm sao thấy rõ mặt nhau. Hãy thử bắt đầu bằng tiếng hát như ca dao của tổ tiên ta ngày xưa đó”. ("Da vàng ca khúc" Trịnh Công Sơn) [53]

Trong ca khúc Gia tài của mẹ sáng tác năm 1965, Trịnh Công Sơn cho rằng đây là cuộc chiến tranh nội chiến.

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ để lại cho con
Gia tài của mẹ là nước Việt buồn.

(Gia tài của mẹ – 1965)

Chính quan điểm này đã làm cho chính quyền Miền Bắc e ngại ông. Bởi vậy, trong giai đoạn đầu của thời hậu chiến, có người quá khích ở chiến khu đã tuyên bố khi về Sài Gòn sẽ “xử tử” Trịnh Công Sơn (2). Cho đến ngày nay, quan điểm về tên gọi cuộc chiến vẫn là điều tranh cãi. Với tôi, tôi đồng cảm cùng suy nghĩ của Trịnh Công Sơn, bởi vì đứng trên góc nhìn dân tộc, cái chết nào cũng đau xót như nhau. Vì tất cả đều chung giòng máu Lạc Hồng(3). Đó chính là bi kịch của người dân Việt. Với trái tim nhạy cảm và nhân ái vô cùng, Trịnh Công Sơn đã nhận ra điều vô lý ấy. Trong bài nói chuyện Trịnh Công Sơn vì hòa bình và tình yêu do Hội Văn hóa Trịnh Công Sơn tổ chức tại Paris đêm 3-5-2003, giáo sư Cao Huy Thuần đặt câu hỏi: “Có cái gì nổi bật trong nhạc chống chiến tranh của Trịnh Công Sơn?” và khẳng định: “Chẳng có gì ngoài chữ tình”. [8] Đúng, nhạc chiến tranh của ông bắt nguồn từ tình yêu thương, nó là những bài tự tình dân tộc, ông nói hộ cho dân tộc thân phận khổ ải của kiếp người trong chiến tranh, là tiếng kêu thương tuyệt vọng của người dân trong cảnh thịt xương tan nát.

Ôi da vàng Việt Nam vỡ nát
Xương thịt đó thiêng liêng vô cùng.
Khắp đất nước tràn đầy xác người:
Xác người nằm quanh đây, trong mưa lạnh này
Bên xác người già yếu, có xác còn thơ ngây
Xác nào là em tôi, dưới hố hầm này
Trong những vùng lửa cháy,
bên những vồng ngô khoai.

(Bài ca dành cho những xác người – 1968)

Là một trí thức, ông ý thức được thân phận nhược tiểu của đất nước mình trong bối cảnh tranh giành ảnh hưởng của các thế lực quốc tế. Cảm nhận được nỗi đau mất mát ấy, cho nên dù đang ở trong cái thế chống đối nhau, tự trong thâm tâm của người dân Việt, họ vẫn thấy yêu nhau, gần nhau:

Tôi muốn yêu anh, yêu Việt Nam
Ngày gió lớn, tôi đi môi gọi thầm,
Gọi tên anh, tên Việt Nam,
Gần nhau trong tiếng nói da vàng.

(Tình ca của người mất trí – 1967)

Cái bi thảm nhất là ở chỗ: cùng là người Việt Nam, nhưng người Việt lại bắn giết người Việt. Trong thực tế cuộc đời, có khi họ là anh em, cha con, là người yêu của nhau, nhưng vì khác chiến tuyến, nên nhìn nhau xa lạ. Khi người Việt đó: Bỏ xác trôi sông, chết ngoài ruộng đồng / Chết rừng mịt mùng, chết lạnh lùng / Mình cháy như than, chết cong queo / Chết vào lòng đèo, chết cạnh gầm cầu / Chết nghẹn ngào, mình không manh áo (Tình ca của người mất trí - 1967).

Trịnh Công Sơn cho rằng, đây là cái chết do một trận địa chấn, một cơn hồng thủy. Một cái chết không nằm trong dự tính của họ. Họ bị những cơn hiểm hoạ cay nghiệt nhất của nhân loại, vô hình xô đẩy nhau vào mâu thuẫn, hận thù. Nhưng trong sâu xa nơi tâm hồn, họ không thấy sự mâu thuẫn, hận thù mà chỉ thấy một màu da thơm mùa lúa chín, thấy yêu nhau, thấy gần nhau trong tiếng nói Việt Nam [23].

Huế Sài Gòn Hà Nội
Hai mươi năm tiếng khóc lầm than
Huế Sài Gòn Hà Nội trong ta đau trái tim
Việt Nam.

(Huế – Sài Gòn – Hà Nội – 1969)

Như vậy thì quả dân tộc ta đang gặp một cơn đại nạn. Và triệu người đã chết bất đắc kỳ tử, chỉ là nạn nhân của một cuộc chiến tranh phát xuất từ đâu tới, chớ không phải từ trong lòng anh em Việt Nam, mà ngày nay có những quan điểm cho rằng đó là cuộc chiến tranh “uỷ nhiệm” của các nước lớn.

Hai mươi năm là xác người Việt nằm
Làm sao ta giết hết những đứa con Việt Nam?
Xưa ta không thù hận
Vì đâu tay ta vấy máu?

(Tuổi trẻ Việt Nam – 1969)

Nói như Bửu Ý “… Chiến tranh diễn ra không phải ở chiến trường, không phải do người cầm súng, nó diễn ra ở bàn tròn, ở trong lòng người, ở trong đầu óc những con người mua bán chiến tranh… Giữa một nền trời như vậy, thân phận con người là một vấn nạn, ta nên nói ngay: đây là một chủ đề tư tưởng, nếu không muốn nói là triết lý…”.[6] Theo Lê Trương, những bài ca nổi tiếng trong giai đoạn này như Tình ca của người mất trí, Ca dao mẹ, Gia tài của mẹ, Đi tìm quê hương là những bài hát có ca từ rất buồn thảm, giai điệu blues dìu dặt, thở than, kể lể như tiếng khóc của một người đàn bà trong góc phòng tối, rồi bỗng nhiên nức nở, gào thét thảm thiết. Ông nói hộ những gì trong tâm hồn họ bị nổ ra vì quá đau khổ, u uất, vì không thể đè nén lại được nữa. Những ước mơ từ lâu họ không được quyền nói tới, phải được chôn sâu vào trong lòng, nay bỗng bùng lên trong tiếng hát của người mất trí. [23]

Không chỉ riêng Trịnh Công Sơn, hầu như người dân miền Nam nào cũng sống trong bi kịch ấy. Để minh chứng cho một thời đại đầy biến động này, chúng ta hãy đọc bài thơ của Nguyễn Bắc Sơn khi viết về bộ đội miền Bắc với một giọng thơ ngất ngưởng:

Kẻ thù ta ơi, những đứa xăm mình
Ăn muối đá và điên say chiến đấu
Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu
Đi hành quân, rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem chiến cuộc như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi, vì ngươi bạc phước
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
Suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau”…

(Chiến tranh Việt Nam và tôi – Nguyễn Bắc Sơn) [62]

Những đứa xăm mình”, những con người ấy cũng một dòng máu như ta thôi. Trong lúc người lính Cộng hòa đã nhận ra cuộc chiến này “cũng chỉ một trò chơi” thì… phần đông “Kẻ thù ta ơi” đều “điên say chiến đấu”, đều tin chắc vào chính nghĩa của cuộc chiến, đều hô hào cổ võ một cách trịnh trọng. “Kẻ thù ta ơi” là một thế hệ tươi sáng, họ là những học sinh, sinh viên đầy nhiệt huyết, được đào tạo từ nhỏ về lòng yêu nước, yêu nước ở đây đồng nghĩa với ý thức về nhiệm vụ và sứ mệnh. Yêu nước ở đây đã gắn liền với một thể chế. “Nhiệm vụ của ta là phải đấu tranh cho lẽ phải. Mà đã đấu tranh thì phải bỏ sức lực, phải suy nghĩ và phải hy sinh những quyền lợi cá nhân, có khi là cả cuộc đời mình, cho lẽ phải chiến thắng” (Nhật ký Đặng Thùy Trâm). [11]

Trong khi đó, ở chiến tuyến khác, trong bài Nghinh địch hành Hà Thúc Sinh viết:

Giao thừa đâu mà vội
Hãy khoan đã chú mày
Cứ đóng xa vài dặm
mà ăn uống cho say
Ta cũng người như chú
cũng nhỏ bé trong đời
có núi sông trong bụng
mà bất lực hôm nay

Vì nói thật cùng chú
Trăm năm có là bao
Binh đao sao biết được
Sinh tử ở nơi nào.

Một người lính Cộng hòa nói với một bộ đội miền Bắc như nói với anh em, và quả thật họ là anh em cùng giống “da vàng mũi tẹt” mà ra. Ta đối với chú mà nói được lời như thế vì lòng ta đã tới độ nguội lạnh, không còn gì khuấy động nổi một cơn điên say nữa. Đao to búa lớn: vô ích. Danh từ cao đẹp: vô ích. Lý tưởng thiêng liêng: vô ích. [62]

Cũng như bao người trí thức miền Nam khác, Trịnh Công Sơn đau đớn nhận ra điều ấy, những thảm cảnh mất mát mà ông thấy trong trái tim của ông.

Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy
Những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em.

(Hát trên những xác người – 1968)

Trịnh Công Sơn viết: “Ðã có điều gì không thật suốt hai mươi năm nay. Một lầm lỡ đã lên đường và phải đi cho trót con đường máu xương. Như một mũi tên vô tri bỗng lỗi thời trong một nhiệm kỳ vô định. Chúng ta, dù muốn dù không, bị biến thành những mũi tên định hướng được bắn đi từ những đồ hình huy hoàng tưởng tượng và ngắn hạn. Dân ta tàn phế hai mươi năm. Nước mắt và máu đã làm thành những con suối lớn chảy mòn tiềm lực sáng tạo. Ðến lúc chúng ta phải dừng tay và nhìn lại.

…Xin hãy dừng tay và cùng chờ nhìn một mặt trời tươi trẻ sẽ được khai sinh ở phương Ðông. Xin hãy dừng tay để mọi căn nhà Việt Nam có thể mở rộng cửa chờ đón một sớm mai hòa bình. Còn rất nhiều con đường mở ra cho tương lai chúng ta. Những con đường đưa ta về dựng lại một tổ quốc đích thực.

… Tiếng hát đã có thể cất lên để nuôi lớn ước mơ. Ta đã có sẵn một hành trang quý giá của hơn bốn nghìn năm để còn mãi bước đi trên những lộ trình mới về tương lai. Ta phải đi tới bằng con tim sứ giả mang niềm tin và lời hứa hẹn của những người đã nằm xuống. Ta phải tìm lại quê hương bằng sức sống mãnh liệt vì trong cơ thể ta đã luân lưu thêm dòng máu của anh em không còn. Quanh đây, những trường học, những bệnh viện, những đình làng, những phiên chợ, những cánh đồng sẽ được bắt đầu lại với những ngày nhân đạo, với một dân tộc nhân bản. Xin đừng bao giờ làm kẻ phản bội với một quá khứ hiển linh” (Kinh Việt Nam–1968).(4)

Bửu Chỉ nhận định: “Tắt một câu, trong dòng nhạc phản chiến của mình, Trịnh Công Sơn đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả. Mà tất cả làm theo mệnh lệnh của con tim mình (…). Trái tim nhân ái, nhạy cảm, chỉ biết nói lên những cảm xúc nồng nhiệt của mình đối với quê hương, dân tộc, dù thiếu vắng một thái độ chính trị, nhưng trung thực. Nghĩa là tự đáy lòng mình thì mình nói”.[5]

Nhận định của Bửu Chỉ thật sâu sắc, tuy nhiên theo tôi, Trịnh Công Sơn không phải không có thái độ chính trị. Thái độ chọn lựa của ông đã thật rõ ràng. Ông thật sự không tham gia bên nào, vì đứng bên nào, ông cũng thấy trái tim mình nhói đau. Như một trò chơi, bạn bè thân của ông chia đều ở hai phía:

Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè
Ngựa hồng đã mỏi vó chết trên đồi quê hương

(Xin mặt trời ngủ yên – 1964)

Người miền Nam thấy mình trong ca khúc Cho một người nằm xuống, Trịnh Công Sơn thương tiếc Lưu Kim Cương, một Đại tá Không quân Việt Nam Cộng hòa tử nạn, là một người bạn hào hiệp của ông:

Anh nằm xuống cho hận thù vào lãng quên
Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn
Đất ôm anh đưa về cội nguồn…
Những xót xa đành nói cùng hư không.

(Cho một người nằm xuống – 1968)

Người miền Bắc lại bắt gặp mình khi ông chia sẻ nỗi đau:

Tôi mất trong chiến tranh này
Bao nhiêu bao nhiêu nụ cười
Em từ Hà Nội có bao giờ được yên vui…

(Tôi đã mất – 1970)

Trịnh Công Sơn đau đớn khi nhìn nước Việt ly tan:

Mẹ Việt Nam ngồi
Ngày đêm tiếng cười
Rộn ràng khắp nơi
Một nước linh thiêng
Một màu da vàng
Người dân no lành
Hội hè suốt năm
…Nhưng hôm nay
Quê hương là miền Nam
Quê hương là trái sáng
Quê hương chở đầy hòm.
…Nhưng hôm nay
Quê hương là Hà Nội
Quê hương là cuộc đời
Những đứa trẻ mồ côi.

(Nhưng hôm nay – 1967)

Mùa hè đỏ lửa 1972, Trịnh Công Sơn viết: “Những thành phố và những xác chết của tháng 5/1972, một lần nữa, tôi không thể nào quên đi tiếng kêu thất thanh của đám người cùng khổ. Cuộc chiến đã không muốn ngừng, và có lẽ còn mang nhiều bộ mặt mới mẻ, thảm khốc hơn. Phải chăng những hồi chuông báo tử chưa đủ làm mềm lòng cuộc sinh sát”.(5)

Với Trịnh Công Sơn, trên xác chết anh em sự vinh quang phải giấu mặt. Không ai ca khúc khải hoàn trên thịt xương của cùng người Việt Nam.

Rồi trưa ngày 30 tháng Tư năm 1975, chiến tranh chấm dứt, người ta nghe tiếng ông hát Nối vòng tay lớn trên Đài Phát thanh Sài Gòn. Nhiều người miền Nam sửng sốt và thấy bị tổn thương như bị phản bội khi mà trái tim họ vốn đã tan nát khi Sài Gòn vừa thất thủ.

Giải thích hành động này ra sao?

Văn Cao mấy chục năm trời im hơi lặng tiếng, bỗng vỡ òa niềm vui với ca khúc Mùa xuân đầu tiên ở cùng thời điểm này, với những ca từ đầy chất nhân văn:

Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Người mẹ nhìn đàn con nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên…

Mùa xuân thanh bình đầu tiên của đất nước, không phải là mùa xuân hoan ca chiến thắng. Với Văn Cao, đó là mùa xuân bừng tỉnh nhận ra tính nhân bản của người Việt bị đánh mất trong chiến tranh giờ đây cần phải được đánh thức trong mỗi con người:

Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người.

(Mùa xuân đầu tiên – Văn Cao)

Phải chăng những nghệ sĩ lớn đều như vậy, như đứa trẻ chỉ biết ca lên niềm hân hoan của dân tộc trong ngày vui chung của đất nước, sau bao năm ngăn cách. Vẫn là niềm vui vượt trên mọi quan điểm chính trị.

Ở Việt Nam, cái logic tư duy của người Việt thường thấy là: không bên này là bên kia. Điều này cũng dễ hiểu vì thực tiễn lịch sử Việt Nam trong suốt nhiều thập kỷ đã đặt con người vào cách tư duy trên. Thái độ không thật sự bên nào của Trịnh Công Sơn đã khiến ông rơi vào cái nhìn nghi ngờ từ cả hai phía.

Bên Cộng Hòa có người đã cho ông là “hèn nhát”: “Trịnh Công Sơn, ông chỉ là một cây sậy, hơn thế nữa, là một cây sậy yếu hèn (cho dù có là “cây sậy biết suy nghĩ” tới đâu). Trong lớp vỏ của một cây sậy, của một thể chất yếu đuối, là một bản chất yếu đuối…Là cây sậy, ông khó mà đứng thẳng trước những trận gió ào ạt, những trận cuồng phong. Ông phải cúi rạp xuống. Là cây sậy, ông cũng tham sống sợ chết, cũng thích ăn ngon mặc đẹp, cũng run sợ trước bạo lực, cũng lo âu trước những nỗi bất an, những mối đe dọa rình rập…”. [22]

Người ta nói “ông phải cúi rạp xuống… cũng run sợ trước bạo lực…”. Thế nhưng, khi nghiên cứu cuộc đời và nội dung các sáng tác của ông (các bài viết và gần 300 ca khúc), tôi không hề bắt gặp điều đó. Thậm chí, Trịnh Công Sơn rất ý thức khi không sáng tác một ca khúc nào có ca từ ca ngợi lãnh đạo, lãnh tụ hay ca ngợi thể chế mình đang sống, dù trong thời chiến tranh hay thời hậu chiến. Đó là lòng tự trọng của người trí thức mà không phải ai cũng có được.

Bên cộng sản, những người quá khích thì “gạt ông qua bên lề” vì thiếu vắng lập trường chính trị. Trịnh Công Sơn chênh vênh giữa hai “lằn đạn”… Mặc kệ những phán xét, ông sống theo suy nghĩ của riêng mình. Tôi nghĩ rằng, thái độ kiên định lập trường sống và hoạt động nghệ thuật của riêng mình chính là bản lĩnh hiếm có của một nghệ sĩ lớn. Là một nghệ sĩ, ông dùng lời ca để hát lên thân phận con người trong chiến tranh, kêu gọi hòa bình và tình yêu thương. Hành động dấn thân với tư cách là người nghệ sĩ đấu tranh cho hòa bình, theo tôi là một chọn lựa dũng cảm, đầy tính nhân văn của một trí thức. Và hành động ở lại Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư, thở cùng nhịp thở với đất nước, đau cùng nỗi đau của dân tộc là logic của một nhân cách lớn. Chính điều ấy đã làm ông trở thành một công dân “ngoại hạng”.

Và một nghịch lý đã xảy ra: Người dân bên nào cũng đều thích hát nhạc của ông, nhưng trớ trêu thay, chính quyền bên nào cũng đều cấm đoán.

Tại sao chính quyền phải run sợ trước những lời ca phản chiến?

Vì quả thật, những gì Trịnh Công Sơn nói lên qua ca khúc của ông đều là nỗi lòng và mơ ước chung của mọi người dân nước Việt. Đó chính là tiếng nói của lương tâm con người. Năm trăm năm trước, Nguyễn Trãi cũng đã từng nói lên nỗi phẫn nộ và đau xót trước cảnh tàn hại do giặc Minh xâm lược gây ra: “…Dân chúng lưu ly, những nỗi lìa tan không kể xiết, binh sĩ đánh chác, luôn năm chết chóc đáng thương thay!”. (Biểu Cầu phong – bài 21). [33] Và trong Bình Ngô đại cáo, ông cũng nói lên thân phận con người bị giày xéo trong chiến tranh:

Nướng con đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ…
Người bị ép xuống biển, dòng lưng mò ngọc,
ngán thay cá mập thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi, đãi cát tìm vàng,
khốn nỗi rừng sâu nước độc…
Nặng nề những nỗi phu phen,
Tan tác cả nghề canh cửi. [17]

Lịch sử Việt Nam như chúng ta biết, là một đất nước luôn luôn bị chiến tranh giày xéo, nội chiến phân ly. Vì vậy, những người dân trong đất nước này từ bao đời phải luôn sống trong cảnh ly tan. Hết giặc nọ đến giặc kia trùng trùng bủa vây. Đại thi hào Nguyễn Du cuối thế kỷ thứ 18 đầu thế kỷ 19, cũng nói lên nỗi thống khổ của người dân trong cảnh loạn lạc: Lần phố xin miếng ăn / Cách ấy đâu được mãi / Chết lăn rãnh đến nơi / Thịt da béo cầy sói (Sở kiến hành). [17]

Trịnh Công Sơn, giữa thế kỷ 20 cũng nói lên bao cảnh thương tâm diễn ra hằng ngày trên một đất nước tang tóc chiến tranh.

Từng chuyến bay đêm, con thơ giật mình,
Hầm trú tan hoang, ôi da thịt vàng…
Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng.
Cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn.

(Đại bác ru đêm – 1967)

Trần Hữu Thục đã rất tinh tế khi nhận ra: “Trong nỗi bi phẫn vì chiến tranh, Trịnh Công Sơn lên tiếng kêu gọi tranh đấu, đồng thời nói lên những khát khao hòa bình với những ca từ hùng hồn, mang tính đấu tranh thúc giục và đầy niềm tin về tương lai: Việt Nam ơi / Còn bao lâu những con người ngồi nhớ thương nhau / Triệu chân em / Triệu chân anh / Hỡi ba miền vùng lên cách mạng (Huế – Sài Gòn – Hà Nội -1969). Hầu hết những ca từ mạnh mẽ hô hào đó, không phải là những hô hào chém giết, mà là hô hào chiến đấu cho hòa bình”. [50]

Trịnh Công Sơn vẽ ra hình ảnh một đất nước sau chiến tranh rất huy hoàng:

Ta cùng lên đường
Đi xây lại Việt Nam
Bàn chân ta đi mau đi sâu vô tới rừng cao
Vác những cây rừng to
Về nơi đây ta xây dựng nhà
Dựng làng mới cho dân ta về
Dựng nhà mới cho miền quê.

(Dựng lại người dựng lại nhà – 1968)

Cũng theo Trần Hữu Thục, ẩn đằng sau những ca từ cho một viễn cảnh thanh bình đó, vẫn là những dòng nước mắt, là nỗi ưu tư nhân thế, là tâm trạng đớn đau cùng cực của thân phận nhỏ bé của kiếp người. “Vẫn là hạt bụi, vẫn là nỗi khắc khoải siêu hình trước cuộc nhân sinh. Chiến tranh, quê hương thân phận con người cuộn xoáy vào với nhau tạo thành một bi kịch. Rốt cuộc, thực chất cuộc đời ông là một kẻ suy ngẫm về kiếp người, một tên hát rong suốt đời lang thang, buồn bã. Chiến tranh cũng là bi kịch nhân sinh, như mọi bi kịch khác. Bởi vậy, có những lúc ông hô hào, reo ca đấu tranh cho hòa bình, thân phận ông cũng thế. Vẫn là một thân tượng buồn!” [50]

Vẫn là:

Trên đời người trổ nhánh hoang vu
Trên ngày đi mọc cành lá mù
Những tim đời đập lời hoang phế.
… Dưới chân ngày cỏ xót xa đưa.

(Cỏ xót xa đưa – 1969)

Có lẽ từ lần đầu tiên đặt bút viết, Trịnh Công Sơn đã nghiệm ra được chân lý riêng của mình: “Cái khả năng to lớn sau cùng của ca khúc là mang đến cảm thông giữa mọi người bằng tiếng hát. Đó là sứ mệnh truyền đạt những âu lo, chờ đợi của con người khi đối diện với chính mình trước cuộc sống, cũng như thông điệp tình yêu và nhân ái đến với những tâm hồn yêu chuộng hòa bình và những con tim đang bị ngộ độc bởi ngòi thuốc nổ”. Cuối cùng gì, thân phận ông cũng như một ngọn cỏ bên đường. Và chính ngọn cỏ bé nhỏ đó đã tạo thành một Trịnh Công Sơn khác, mang ông đi vào vĩnh cửu.

Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, thân phận da vàng của một nước nhược tiểu được Trịnh Công Sơn đẩy đến tận cùng:

Người nô lệ da vàng ngủ quên
Ngủ quên trong căn nhà nhỏ
Đèn thắp thì mờ…

(Đi tìm quê hương – 1967)

Với cái nhìn tỉnh táo, Trịnh Công Sơn đã nhận ra thân phận “nô lệ da vàng” của người Việt trong chiến tranh. Ông luôn nhắc nhở chúng ta về một dòng giống Lạc Hồng trong bối cảnh tranh giành quyền lợi của các nước lớn. Bởi vì, người Việt sống nhưng không có chủ quyền trong tay, sinh mạng bị phụ thuộc vào ngoại bang, giá trị làm người bị phủ nhận, thì khác gì một nô lệ. Trịnh Công Sơn hỏi: Vậy thì tại sao lại có cảnh nội chiến? Đây là lời tố cáo:

Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu
Một trăm năm nô lệ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ, một bọn lai căng,
Gia tài của mẹ, một lũ bội tình…

(Gia tài của mẹ – 1965)

Sự xuất hiện của hai chữ lai căng trong ca từ mang nhiều ý nghĩa quan trọng. Lai căng tức là từ bỏ con người văn hóa dân tộc của mình để biến thành một người khác. Lai căng là phụ thuộc ngoại bang từ bên này hay bên kia, bằng cách này hay cách khác. Bọn lai căng đó trở thành một lũ bội tình dân tộc, vì luôn luôn đứng sát với ngoại bang để bóc lột, mưu cầu quyền lợi, hãm hại đồng bào mình.[23] Lời mẹ dặn con chớ quên màu da vàng, dặn con giữ gìn màu da vàng chính là một cách phản kháng tâm thức nô lệ, một hình thức chống lại những khuynh hướng lai căng đang đe dọa:

Dạy cho con tiếng nói thật thà
Mẹ mong con chớ quên màu da
Con chớ quên màu da nước Việt xưa
Mẹ trông con mau bước về nhà
Mẹ mong con lũ con đường xa
Ôi lũ con cùng cha quên hận thù.

(Gia tài của mẹ – 1965)

Dân tộc của ông là trăm trứng nở ra trăm con trong huyền thoại lịch sử, cùng giống Con Rồng Cháu Tiên. Dân tộc của ông là thế: là tất cả mọi người, không phân biệt Nam-Bắc, không phân biệt giai cấp. Vì sao? Vì có người mẹ nào phân biệt con? Dân tộc, bởi vậy, mang hình ảnh bà Mẹ. Bà Mẹ đó luôn ăn năn – ăn năn cả đến việc đã sinh ra con, bởi vì sinh ra con để làm gì khi chúng sống một kiếp người đọa đày, thù hận? [23]

Mẹ nhìn quê hương nghe con mình buồn
giọt lệ ăn năn
Giọt lệ ăn năn đưa con về trần tủi nhục chung thân.

Chiến tranh là tủi nhục của bà Mẹ, vì xương thịt nào cũng từ Mẹ mà ra, xương thịt nào cũng là Việt Nam. Cùng là đứa con của Mẹ mà thôi. [23]

* * *

Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn là thế. Có người tán thành, có người còn nghi ngại. Âu cũng là lẽ thường tình vì cách nghĩ của con người có bao giờ là như nhau. Nó luôn vận động và nhận chân lại những giá trị, lý giải lại những gì đã qua. Cuộc đời này mãi mãi là như vậy. Nhưng cho dù là gì đi nữa, theo tôi, chắc không ai không thừa nhận Ca khúc da vàng của Trịnh Công Sơn bắt nguồn từ lòng yêu thương con người. Mà cái gốc tình yêu thương của ông chịu ảnh hưởng sâu đậm triết lý “Tứ hải giai huynh đệ”, là nhân loại một nhà, vượt qua những hệ tư tưởng nhỏ bé, những hệ lụy đời thường. Ông đã đứng lên trên tất cả mọi thiên kiến chính trị để nói lên nỗi đau của người dân da vàng, của người dân nước Việt. Và phải chăng, vì viết theo “mệnh lệnh của con tim”, chứ không theo một thứ mệnh lệnh nào khác, mà người đời đã vinh danh ông là Kẻ du ca bất khuất của Việt Nam.

Ông ca tụng tình yêu thương, ông chống bạo lực và chống chiến tranh. Kêu gọi đoàn kết, xoá bỏ hận thù. Phải chăng đó là những chủ đề không chỉ có tính thời sự cấp thiết mà còn luôn luôn là vấn đề lớn của nhân loại của muôn đời.

Cho đến ngày nay, sau hơn 30 năm kết thúc chiến tranh, nhìn lại những chặng đường thăng trầm của đất nước, có lẽ đã đến lúc chúng ta dũng cảm nhìn nhận lại cuộc chiến đã qua và thân phận các ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn. Và chúng ta hãy tự hỏi: thân phận da vàng người Việt ngày nay đã thực sự thoát đời nô lệ ngoại bang chưa?

Hay vẫn còn đó nỗi niềm:
Ôi gian nan đời nước nhỏ
Sao đau thương nhiều lắm thế

(Quê hương đau nặng – 1971)

Chiến tranh hạt nhân, chiến tranh tôn giáo, chiến tranh giữa những hệ tư tưởng… nội chiến… ngay lúc này, chúng ta có thể nghe thấy tiếng bom nổ trong thành phố Baghdad, xung đột ở Palestine, khủng bố ở Thái Lan… cuộc chiến vẫn luôn chực chờ ở đâu đó và những ca từ kêu gọi hòa bình, yêu thương con người của Trịnh Công Sơn vẫn luôn mãi còn giá trị.



Tài liệu tham khảo:

[1] Anh Ngọc (2004), Nhớ thế kỷ hai mươi, NXB QĐND

[2] Báo Người Việt-Hoa Kỳ, trong bài Tiểu sử Trịnh Công Sơn viết: “Trước dây tại Sài Gòn, có người từng tuyên bố khi nắm được chính quyền sẽ xử tử Trịnh Công Sơn về tội đã gọi chiến tranh Việt Nam là “nội chiến” (trong câu hát”hai mươi năm nội chiến từng ngày”, thay vì phải gọi là”Chiến tranh chống Mỹ cứu nước”.Vì vậy, sau 30/4 Trịnh Công Sơn phải về Huế ngay khi “những người chiến khu” vào Sài Gòn…năm 1979, nguyên cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đứng ra che chở ông, đánh tiếng gọi ông về lại Sài Gòn.”

[3] Bùi Bảo Trúc (2004), Về Trịnh Công Sơn, in trong tập Một cõi Trịnh Công Sơn, NXB Thuận Hoá, tr 351-375

[4] Bùi Vĩnh Phúc (2005), Trịnh Công Sơn / Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật, NXB Văn Mới, California, Hoa Kỳ, và một phần của chuyên luận trên http://www.tcs-home.org

[5] Bửu Chỉ (2001), Về những ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn, báo Diễn Đàn Forum, tr29, tháng 9/2001, Paris.

[6] Bửu Ý (2003), Kẻ du ca về tình yêu, quê hương và thân phận, in trong tập Trịnh Công Sơn, rơi lệ ru người, NXB Phụ Nữ.

[7] Bửu Ý (2004), Một nhạc sĩ thiên tài, NXB Trẻ.

[8] Cao Huy Thuần (2003), Nhạc chống chiến tranh của Trịnh Công Sơn, http://www.tcs-home.org

[9] Đặng Tiến (2001), Đời và nhạc Trịnh Công Sơn, http://www.tcs-home.org

[10] Đặng Tiến (2001), Trịnh Công Sơn, tiếng hát hòa bình, Tạp chí Văn Học số 10&11/2001 California, Hoa Kỳ, tr.180

[11] Đặng Thùy Trâm (2005), Nhật ký, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, tr 50-51

[12] Đinh Gia Khánh (chủ biên) (2001), Văn học Việt Nam (Thế kỷ X- nửa đầu thế kỷ XVIII) NXB GD Hà Nội.

[13] Đinh Trọng Lạc (2003), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB GD.

[14] Đoàn Thị Thu Vân (1996), Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam thế kỷ X-thế kỷ XIV, NXB Văn học.

[15] Dương Viết Á (2000), Ca từ trong âm nhạc Việt Nam, Viện Âm nhạc Hà Nội.

[16] Eric Henry (2005), Phạm Duy và lịch sử Việt Nam hiện đại, in trên Talawas, tháng 11/2005

[17] Giảng văn Văn học Việt nam (2002), NXBGD.

[18] Hoài Thanh – Hoài Chân (1993), Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học Hà Nội.

[19] Hoàng Phủ Ngọc Tường (2005), Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé, NXB Trẻ.

[20] Lê Tiến Dũng (2003), Một đời người, một đời thơ, in trong tập “Thơ Xuân Diệu và những lời bình”, NXB VHTT.

[21] Lê Bá Hán (chủ biên), Lê Quang Hưng, Chu Văn Sơn (2003), Tinh hoa Thơ Mới thẩm bình và suy ngẫm, NXB GD.

[22] Lê Hữu, Ảo giác Trịnh Công Sơn, nguồn http://www.tcs-home.org

[23] Lê Trương, Phong trào da vàng ca, http://www.suutap.com

[24] Lý Hoài Thu (1997), Xuân Diệu trước Cách mạng tháng tám -1945, NXBGD.

[25] Mã Giang Lân (Tuyển chọn và biên soạn) (2003), Thơ Xuân Diệu và những lời bình, NXBVHTT.

[26] M.T. Stepaniants (2003), Triết học phương Đông. NXBKHXH.

[27] Một tài liệu khác trong băng Thúy Nga, Khánh Ly nói rằng năm 1962 Trịnh Công Sơn gặp Khánh Ly ở Đà Lạt rủ về Sài Gòn đi hát nhưng Khánh Ly không về. Mãi đến 1965 Khánh Ly mới về Sài Gòn và cùng Trịnh Công Sơn đi hát.

[28] Nguyễn Đắc Xuân (2003), Có một thời như thế, NXB Văn học.

[29] Nguyễn Duy (2004), “Ngày sau sỏi đá”, in trong Một cõi TCS, NXB Thuận Hóa, tr. 44.

[30] Nguyễn Hưng Quốc, Các lý thuyết phê bình văn học. Nguồn http://www.tienve.org

[31] Nguyễn Quang Sáng (2004), Paris, tiếng hát Trịnh Công Sơn, in trong “Một cõi TCS”, NXB Thuận Hóa, tr. 270 – 283

[32] Nguyễn Văn Dân (2003), Lý luận văn học so sánh, NXBKHQG Hà Nội.

[33] Nguyễn Trãi toàn tập (1976), NXBKHXH.

[34] Nguyễn Đăng Thục (1997), Thiền học Việt Nam, NXB Thuận Hoá.

[35] Nhạc Trịnh Công Sơn trên xứ Phù Tang. Nguồn http://www.tcs-home.org

[36] Nhiều tác giả (2004), Một cõi Trịnh Công Sơn, NXB Thuận Hóa, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây.

[37] Nhiều tác giả (2003), Trịnh Công Sơn người hát rong qua nhiều thế hệ, NXB Trẻ.

[38] Nhớ người trong cõi (2004), trích các bài viết về Trịnh Công Sơn in trong “Một cõi TCS”, NXB Thuận Hóa, tr. 455.

[39] Phạm Bân. Tiếng Việt trong dòng Nhạc Trịnh Công Sơn, nguồn: http://suutap.com

[40] Phạm Văn Kỳ Thanh (2005), Phỏng vấn Bùi Vĩnh Phúc, TCS ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật, nguồn: in trên Talawas tháng 12/2005

[41] Phạm Văn Đỉnh, Danh muc ca từ Trịnh Công Sơn, http://www.tcs-home.org

[42] Phan Bích Hợp (2005), Bi kịch nhị nguyên và số phận con người, TC Tia Sáng điện tử 01/12/2005

[43] S.Freud, E.Fromm, A. Schopenhauer, V.Soloviev, Đỗ Lai Thúy (biên soạn) (2003), Phân tâm học và tình yêu, NXB VHTT, Hà Nội.

[44] Sâm Thương, “Thời thanh xuân Trịnh Công Sơn”, http://www.tcs-home.org.

[45] Tạ Tỵ, Trịnh Công Sơn, nguồn http://www.suutap.com

[46] Tạp chí Văn học (2001), Chuyên đề đặc biệt về Trịnh Công Sơn, tháng 10&11/2001 Garden Grove, California, Hoa Kỳ.

[47] Tạp chí Văn (2004), California, Hoa Kỳ, số 92, tháng 8/2004.

[48] Tạp chí Hợp Lưu (2001), California, Hoa Kỳ, số 59, tháng 6&7/2001.

[49] Thụy Khuê, Triết học hiện sinh. Nguồn trang web Thuy Khue.

[50] Trần Hữu Thục (2001), Một cái nhìn về ca từ Trịnh Công Sơn, in trong Tạp chí Văn Học tháng 10&11/2001 California, Hoa Kỳ.

[51] Trần Quốc Vượng (chủ biên) (2003), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXBGD Huế.

[52] Trịnh Công Sơn. Đành vậy với tình yêu, đăng trên báo Đại Đoàn Kết. Nguồn http://www.suutap.com

[53] Trịnh Công Sơn, Da vàng ca khúc, nguồn http://www.suutap.com

[54] Trịnh Công Sơn (1995), Tuyển tập những bài ca không năm tháng, NXB Âm nhạc.

[55] Trịnh Công Sơn rơi lệ ru người (2003), nxb Phụ nữ

[56] Trọng Thịnh (2005), Phạm Thiên Thư và “Ngày xưa Hoàng thị”, theo Báo điện tử Tiền phong 27/11/2005

[57] Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, NXBKHXN Hà Nội.

[58] Văn Cao (2004), Trịnh Công Sơn người thơ ca, in trong tập “Một cõi TCS”, NXB Thuận Hóa, tr. 17.

[59] Văn Tân (1994), Từ điển Tiếng Việt, NXBKHGD.

[60] Văn xuôi Trịnh Công Sơn (2004), Bài hát đầu tiên bài hát cuối cùng, in trong “Một cõi TCS”, NXB Thuận Hóa, tr. 469.

[61] Văn xuôi Trịnh Công Sơn (2004), Kiếp sau tôi vẫn là người nghệ sĩ (trả lời phỏng vấn VCH), in trong “Một cõi TCS”, NXB Thuận Hóa.TTVHNNĐT.

[62] Võ Phiến. Tổng quan Văn học Miền Nam, nguồn http://www.tienve.org

[63] Võ Xuân Hân. “Đóa hoa vô thường” http://tcs-home.org

[64] Yoshii Michiko (1991), Luận văn cao học về nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn.

[65] Schafer, John C., (2007) :D eath, Buddhism, and existentialism in the Songs of Trịnh Công Sơn, Journal of Vietnamese Studies, 2.1, pp. 144-186


(3) Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng có cái nhìn tương tự. Tham khảo: Trịnh Công Sơn cây đàn lya của Hoàng tử bé, Nxb Trẻ, 2005, tr. 62-70.

(4) Trịnh Công Sơn, Kinh Việt Nam. (suutap.com)

(5) Phụ khúc da vàng (suutap.com).


-------------------

Nguồn: Tạp chí Da Mầu http://damau.org/archives/5470

19 tháng 7, 2009

Cẩm Vân - Sóng về đâu



Sóng về đâu của Trịnh Công Sơn do Cẩm Vân hát


18 tháng 7, 2009

Nghệ thuật ca từ của Trịnh Công Sơn qua "Ðoá hoa vô thường"



Trịnh Công Sơn
với “ĐÓA HOA VÔ THƯỜNG”

SỰ SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT THEO QUY LUẬT TÌNH CẢM – CẢM XÚC



Nguyễn Thị Tâm Anh*
(ĐH Mở Bán công TP HCM)

http://www.ou.edu.vn/vietnam/files/tapsankhoahoc/2006/PDF/So%2004(10)/tskh04(10)_page97.pdf



Nghe Hồng Nhung hát


Track 13 - 149.doa hoa vo thuong-hong nhung



Mỗi con người đều có quan niệm khác nhau về cái đẹp và từ đó mà góc độ đánh giá cái đẹp trong một tác phẩm nghệ thuật của họ cũng khác nhau. Bất chợt ta nhìn thấy một cánh rừng trong mùa thay lá, một bức tường đổ nát chông chênh rêu xanh phủ kín, một bức tranh cũ treo lệch… và ta cảm nhận chúng đẹp, đẹp theo cách riêng. Những con người có tâm hồn sáng tạo sẽ tô điểm thêm để biến chúng thành những tác phẩm nghệ thuật. Có thể thấy nghệ thuật rất gần gũi và thân thiết với đời sống con người, một điều gì đó rất gần, rất xa… nhưng không thể không tồn tại… Vậy nghệ thuật là gì?

Nghệ thuật chính là thành quả, là giá trị sáng tạo của con người, không có trong thế giới tự nhiên. Nghiên cứu nghệ thuật không thể tách rời việc nghiên cứu cái đẹp, mặt khác là phải phát hiện những ranh giới giữa cái đẹp và nghệ thuật trong thực tiễn sáng tạo cũng như trong khái niệm khoa học. Đôi khi người ta không phân biệt cái đẹp và nghệ thuật hoặc tuyệt đối hóa vai trò của cá tính trong sáng tạo nghệ thuật. Tuy nhiên, từ cái đẹp đến nghệ thuật là những bước đi của sự phát triển về tinh thần, những chuyển hóa chức năng trong hoạt động sáng tạo của con người. Từ cái đẹp phổ biến, thông thường như một quy luật trong hoạt động, hành vi của con người, bất cứ người nào cũng có khả năng này song điều đó chưa đủ để trở thành nghệ thuật, chưa phải là nghệ thuật. Muốn vượt qua ranh giới này cần có những điều kiện chủ quan (phải có khả năng sáng tạo) và khách quan (công phu, tài vật, trí thức, thời gian) để đi vào ngưỡng cửa nghệ thuật, tạo ra tác phẩm của nghệ thuật ứng dụng. Từ nghệ thuật ứng dụng bước thêm một bước mới có thể đạt đến nghệ thuật thuần túy, có nghĩa là một tác phẩm nghệ thuật ứng dụng muốn chuyển hóa thành nghệ thuật thuần túy phải gạt bỏ chức năng thực tế – sử dụng còn lại chức năng thẩm mỹ – nghệ thuật, chỉ để thưởng ngoạn về mặt tinh thần mà thôi.

Ban đầu những yếu tố của nghệ thuật như nhạc điệu, màu sắc, vần thơ… làm phương tiện truyền cảm để chuyên chở nội dung tư tưởng triết lý, đạo đức, những tri thức khoa học và lịch sử, những tín điều tôn giáo… Đó là sự liên kết tay đôi giữa nghệ thuật với các hình thái ý thức khác, gọi là nghệ thuật ứng dụng – lưỡng tính. Nhưng đời sống nội tâm và hành vi ứng xử, gọi chung là hành động – sống của con người trở thành một nội dung riêng biệt của nghệ thuật, thì nghệ thuật thuần nhất – đơn tính ra đời. Nghệ thuật không còn là phương tiện truyền cảm để phục vụ cho các hình thái ý thức khác, mà tự mình là một hình thái độc lập, gọi là nghệ thuật thuần nhất (hay thuần túy) – đơn tính (chỉ có một tính năng thẩm mỹ nghệ thuật, không mang tính sử dụng, tính ích dụng).

Tóm lại, hiểu theo nghĩa rộng rãi nhất, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, là một loại hoạt động tinh thần – thực tiễn của con người, đi theo quy luật của cái đẹp ở trình độ phát triển cao, nhằm phục vụ cho con người một đời sống tinh thần phong phú, đáp ứng những nhu cầu và khát vọng của con người vươn tới những giá trị chân – thiện – mỹ.

Nghệ thuật là một hoạt động tinh thần – thực tiễn không phải đơn thuần là hoạt động tinh thần. Đó là một mô hình đa diện phản ánh toàn bộ những hình thái hoạt động quan trọng nhất của con người: thực tiễn, giao tiếp, nhận thức và giá trị. Nghệ thuật thực hiện mô hình hóa cuộc sống của con người nhằm tái hiện một cách toàn diện những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm tình cảm của con người. Ý thức nghệ thuật khác với các hình thái ý thức khác ở đặc trưng cảm tính – cụ thể, đặc trưng tình cảm, thể hiện đặc trưng ở phạm trù hình tượng. Trong đó, thao tác miêu tả và biểu hiện là hai thao tác quen thuộc nhưng có ý nghĩa rất lớn của đặc trưng hình tượng. Không có một loại hoạt động nào ngoài hoạt động nghệ thuật lại có sự kết hợp chặt chẽ việc phản ánh đối tượng khách quan (miêu tả) và việc phản ánh tư tưởng tình cảm chủ quan của con người sáng tạo (biểu hiện), nhất là ở thành phẩm cuối cùng của nó. Trong các yếu tố trên thì yếu tố cảm xúc – cá biệt của chủ thể sáng tạo là quan trọng nhất, là cái phôi đầu tiên để tạo nên hình tượng.

Trong phạm vi nhỏ, tôi muốn đề cập đến một trong những đặc trưng cơ bản của nghệ thuật, “Nghệ thuật là sự sáng tạo theo quy luật tình cảm – cảm xúc”. Một tác phẩm nghệ thuật được phôi thai và thành hình xuất phát từ ý tưởng của người nghệ sỹ. Người nghệ sỹ phải có cảm xúc, có tình cảm khi nhìn thấy, nghe thấy hay cảm thấy một hình ảnh nào đó, một điều gì đó. Hay nói cách khác người nghệ sỹ cần có một trái tim giàu xúc cảm với khối óc và bàn tay hoa mỹ để làm tươi đẹp và phong phú thêm cuộc sống. Tôi vẫn luôn cảm thấy rằng nghệ thuật đòi hỏi sự cô đơn hay nói như ai đó đã nói đối với âm nhạc của Trịnh Công Sơn “nỗi cô đơn chính là vực thẳm linh hồn mà nghệ thuật cần đạt tới, như đạt tới chân thân của mình, để từ đây biết khước từ mọi ảo tưởng cuộc đời”. Dĩ nhiên, không ai khuyến khích hướng đến sự cô đơn nhưng dường như một tâm hồn cô đơn dễ dàng đồng điệu với cái đẹp, cảm nhận nó và từ đó vượt lên trên cái đẹp thông thường, đạt được sự thăng hoa trong nghệ thuật…

Ở đây tôi chọn lĩnh vực âm nhạc, âm nhạc của Trịnh Công Sơn để minh họa cho đặc trưng cơ bản này. Âm nhạc được xếp vào loại hình nghệ thuật đơn tính và thuộc nhóm thời gian. Nghệ thuật đơn tính chính là nơi tất cả phẩm hạnh của cái đẹp hội tụ lại, nơi sự sống con người hóa thân. Âm nhạc có đặc điểm chung là diễn đạt được sự biến đổi và phát triển, diễn đạt tính quá trình của tâm trạng và hành động. Từ phương thức xây dựng hình tượng đến cấu trúc của thể loại và tác phẩm, kể cả ngôn ngữ, đều tuân thủ và khai thác tối đa quy luật thời gian, đều mang tính chất quá trình, tính phát triển.

Nhưng cũng vì mang tính thời gian nên bên cạnh yếu tố sở trường cũng có sở đoản: thiếu sự đứng yên, sự tĩnh tại trong không gian, phải khắc phục bằng cách tạo ra các yếu tố kỹ thuật, tạo ảo giác về không gian, về sự tĩnh tại. Đó là lối xây dựng hình tượng kiểu nhắc lại, trùng lặp theo hình trôn ốc và dùng ngôn ngữ đa thanh. Nghệ thuật âm nhạc là nghệ thuật âm thanh vì lẽ nó tác động đến con người một cách nhanh nhất, mạnh nhất và nhạy nhất; là nghệ thuật thời gian vì nó miêu tả được tâm trạng và cuộc sống của con người trong một quá trình biến đổi và phát triển; và âm nhạc còn là nghệ thuật biểu diễn vì nó trải qua ba lần sáng tạo: sáng tác, trình diễn và người nghe thưởng thức. Ngoài những đặc điểm chung trên thì âm nhạc còn có đặc điểm ngôn ngữ. Yếu tố ngôn ngữ của âm nhạc là nhịp điệu. Để đắp vào bộ khung nhịp điệu đó, âm nhạc có yếu tố giai điệu. Và do âm nhạc là nghệ thuật trình diễn, không miêu tả nên ngôn ngữ của âm nhạc có tính ước lệ, không mô phỏng theo âm thanh hay động tác có thật trong đời sống. Người cảm thụ cần có sự hiểu biết về ngôn ngữ, giai điệu của âm nhạc (bao gồm cấu tạo âm giai, điệu thức, hòa thanh, phức điệu) đồng thời cũng cần hiểu các thể loại và phương tiện nhạc khí có tính năng gì.

Âm nhạc có hai nhóm thể loại: thanh nhạc và khí nhạc. Trong mỗi nhóm lại có những thể loại khác nhau, ví như trong thanh nhạc có làn điệu, ca khúc, nhạc kịch (opera); trong khí nhạc có khúc luyện, nhạc khúc, sonate, tổ khúc, concerto, symphonie, với quy mô diễn tấu mà phân thành nhạc thính phòng hay giao hưởng. Ngoài cách phân biệt trên còn có cách phân biệt theo quy mô dàn nhạc như độc tấu, hòa tấu, giao hưởng. Tính thời gian phản ánh trong cấu tạo thể loại ở độ dài ngắn và sự biến đổi, sự luân chuyển các chương, đoạn có tính chất khác nhau.

Trong một tác phẩm âm nhạc, thì phần giai điệu (cao độ) thể hiện sự đẹp đẽ của nghệ thuật, đó cũng chính là phần “máu thịt” của tác phẩm; phần nhịp điệu (trường độ) với những âm dài ngắn khác nhau xuất hiện liên tục theo chu kỳ được xem là phần “xương” của tác phẩm; âm sắc sẽ khác nhau và tiêu biểu cho mỗi giọng người trình diễn; cường độ chính là độ mạnh nhẹ của âm và sắc thái âm nhạc sẽ thể hiện tình cảm trong khi biểu diễn ở từng đoạn hoặc trên cả bản nhạc.

Cũng nhằm minh họa cho đặc trưng trên, xin chọn tác phẩm “Đóa hoa vô thường” của Trịnh Công Sơn. Âm nhạc Trịnh Công Sơn có lẽ không xa lạ gì với mỗi con người Việt Nam. Từ lâu lắm, ông đã được giới ái mộ trao tặng danh hiệu là kẻ du ca về tình yêu, quê hương và thân phận. Nhạc của ông không đơn giản chỉ là nhạc, bài hát không chỉ là bài hát. Mỗi bài, mỗi ca khúc là một khúc tâm sự, một câu chuyện dài chưa đoạn kết. Nguồn cảm hứng của nhạc Trịnh khơi nguồn từ những nỗi khổ đau trong đời người, nỗi thất vọng, sự chông chênh, những gì không vuông tròn, đối xứng. Cảm xúc của ông dường như luôn đi trước một bước. Trong nỗi sống hình thành nỗi nhớ và nỗi chết, mới gặp gỡ mà đã có dự cảm chia lìa, mất mát… Những cặp phạm trù buồn – vui, sống – chết, hạnh phúc – khổ đau, đắng – ngọt luôn tồn tại trong suy nghĩ, trong tâm tưởng và từ đó lặng lẽ đi vào từng ca khúc của ông. Ông quê ở làng Minh Hương, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên nhưng sinh ra tại Đắc Lắc. Ca khúc đầu tay của ông được sáng tác năm 1958 mang tên “Ướt mi”. Cho đến khi mất, ông đã sáng tác được hơn 700 tác phẩm chia thành 3 chủ đề lớn: Tình yêu – Quê hương – Thân phận. Ông sống với quan niệm: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, dù không để làm gì cả, dù chỉ để… gió cuốn đi”. Và như thế, người nghệ sĩ đã sống trọn với đời, với người.

Trịnh Công Sơn bước chân vào loại hình nghệ thuật thời gian này như một định mệnh. Người khác diễn đạt tâm hồn mình bằng tiếng nói, chữ viết và nhiều phương tiện khác còn ông lại có khuynh hướng nghiêng về những ca khúc. Qua ca khúc, ông đã đến gần và đã di xa những chuyện tình, đã tham dự những nỗi hân hoan của đời người và cũng gánh nhẹ giùm những phiền muộn… Đối với ông, ca khúc chính là đời sống thứ hai sau cái thân thể mà cha mẹ sinh thành…†

“Đóa hoa vô thường” vừa là dạng liên khúc vừa mang dáng dấp trường ca. Với phần nhạc dạo đệm trước mỗi đoản khúc, bài hát kể về một tình sử triết lý giữa chữ ”ái” và chữ “tâm”. Ở đây, tôi chọn ca khúc này để phân tích cũng một phần do yếu tố chủ quan bởi tôi thích và lấy làm lạ trước cấu trúc của ca khúc này. Về hoàn cảnh ra đời của ca khúc “Đóa hoa vô thường” thì đến nay vẫn còn có những cách giải thích khác nhau. Một lần trên đài FM có phát thanh về nguồn gốc ra đời tác phẩm này. Theo đó thì Trịnh Công Sơn sáng tác ca khúc này xuất phát từ một bức tranh ghép trong một buổi triển lãm. Đó là một bức tranh vẽ ghép gồm mười bức nhỏ kể về câu chuyện một người bị mất trâu. Tâm trạng của người này thể hiện rõ qua những bức họa nhỏ hơn. Một người đàn ông mua được một con trâu tốt, ông rất vui mừng dắt trâu về và lấy làm hớn hở vì từ nay đã có trâu tốt đi cày. Lo sợ bị mất trâu nên ông đã đóng một cái chuồng thật chắc và buộc trâu vào. Nỗi vui mừng không kéo dài được bao lâu… Một buổi sáng thức giấc, ra thăm trâu, ông chỉ thấy còn lại vỏn vẹn cọng dây thừng buộc trâu nằm trơ trọi trên chiếc cọc. Thất vọng, hụt hẫng… Kẻ nào đó đã lấy đi niềm vui của ông… Nội dung của những bức vẽ là thế… Trịnh Công Sơn luôn nhận ra cái lẽ vô thường trong trời đất. Vô thường bàng bạc trong âm nhạc của ông khiến người nghe cảm thấy bâng khuâng và không cần hiểu hết ý nghĩa cũng đã thấy hay lắm rồi. Và trong đó còn chứa đựng chiều sâu triết lý làm rung động đến sâu thẳm tâm hồn mỗi con người… Với “Đóa hoa vô thường”, Trịnh Công Sơn đã nhạc hóa lý thuyết và lý thuyết hóa nhạc2. Toàn bài là một chuyện tình với ẩn chứa đâu đó hình ảnh một người phụ nữ đẹp, một “đóa hoa vô thường”. Với đoạn đầu tiên, nhịp 6/8 thong dong như lời tâm tình kể về khi đi tìm tình:

Tìm em tôi tìm mình hạc xương mai
Tìm trên non ngàn một cành hoa khôi

Trong vườn mưa tạnh tiếng nhạc hân hoan
Trăng vàng khai hội một đóa hoa quỳnh…

Ở đây, ta thấy ông đã sử dụng ngôn ngữ siêu thực. Những sự vật bình thường, nhỏ bé nay đã được con mắt người nhạc sĩ ưu ái: “Một hồn giấy mới”

Tìm mãi rồi cũng đến lúc gặp được tình. Nhịp 2/4 hớn hở ở đoạn hai đã miêu tả tâm trạng vui mừng khi đưa tình về:

Từ nay tôi đã có người, có em đi đứng bên đời líu lo
Từ nay tôi đã có tình, có em yêu dấu lẫy lừng nói thưa

Mùa xuân trên những mái nhà, có con chim hót tên là ái ân

Ở đoạn thứ ba, ông nói rằng bốn mùa yêu nhau trong lẽ vô thường của trời đất. Nhịp êm ái, nồng thắm càng như tăng thêm nỗi hạnh phúc của những kẻ yêu nhau và được gần bên nhau:

Sen hồng một nụ em ngồi một thuở
Một thuở yêu nhau, có vui cùng sầu
Từ rạng đông cao, đến đêm ngọt ngào
Thế nhưng đoạn sau nhạc trở nên hiu hắt với nhịp 4/4 đều đặn, “một thời yêu dấu đã qua”:
Một chiều em đứng cuối sông
Gió mùa thu rất ân cần

Dù trần gian có xót xa
Cũng đành về với quê nhà

Ông lại viết rằng “Con sóng biển dâu đã mang tình về chốn cũ”. Nhịp trong đoạn này vừa dồn dập, vừa mang đến cảm giác mênh mông:

Từ đó trong vườn khuya
Ôi áo xưa em là
Một chút mây phù du
Đã thoáng qua đời ta

Từ đó ta ngồi mê
Để thấy trên đường xa
Một chuyến xa tựa như
Vừa đến nơi chia lìa…

Ông đã sử dụng ngôn ngữ hiện sinh tạo cho người nghe tâm trạng khúc mắc, gây khắc khoải, bế tắc để tâm tình “Dù trần gian có xót xa cũng đành về với quê nhà”.

Rồi nhạc bỗng đang mạnh và liền nhau lại trở nên êm dịu để đi vào đoạn kết “từ đó ta là đêm nở đóa hoa vô thường”. Sao lại như vậy? Ông giải thích rằng “Tình do tâm ta mà sinh. Có khi tình mất mà tâm còn động vọng. Đến lúc tâm bình an thì tình kia cũng đoạn nỗi”:

Từ đó ta nằm đau
Ôi núi cũng như đèo

Từ đó ta là đêm
Nở đóa hoa vô thường…

Như vậy, từ chữ “ái” đến chữ “tâm”, Đóa hoa vô thường đã trình bày một quá trình chuyển hóa trong đó chuyện đời cũng như chuyện tình diễn biến dưới hình thức đối nghịch từng đôi, từng cặp như “tôi” với “em”: tìm – gặp, gặp – mất, mất – còn, có – không. Vô thường, trong Trịnh Công Sơn, không có gì khác hơn là từ cái “có” đi vào cái “không”. Những ý tưởng đối nghịch như thế luôn tồn tại trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn và tạo thành nét riêng ông đặc sắc.

Trịnh Công Sơn là vậy – người nghệ sỹ bằng tình cảm, cảm xúc của mình đã để lại những tác phẩm đi vào lòng mỗi con người theo cách riêng, mãi với thời gian. Ông cũng là một “đóa hoa vô thường” – nở giữa đất trời.





*Giáo viên cơ hữu Khoa ĐNÁ Học, ĐH Mở Bán công TP.HCM (ở một số blog, tên tác giả không phải là Nguyễn Thị Tâm Anh nhưng tôi tin chị Tâm Anh là tác giả đích thực của bài viết này)

† Trịnh Công Sơn, 1939 – 2001. Cuộc đời, âm nhạc, thơ, hội họa và suy tưởng, NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, trang 273-274.

2 Trịnh Công Sơn, 1939 – 2001. Cuộc đời, âm nhạc, thơ, hội họa và suy tưởng, NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, trang 143.



* TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. TS. Lâm Vinh, Tài liệu Nghệ thuật học, ĐH Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 2000 – 2001.
2. TS. Lâm Vinh, Mỹ học (về cái đẹp – về nghệ thuật – về con người), ĐH Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.
3. Bửu Ý, Trịnh Công Sơn – một nhạc sĩ thiên tài, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2003.
4. Trịnh Công Sơn, 1939 – 2001. Cuộc đời, âm nhạc, thơ, hội họa và suy tưởng, NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.
5. Trịnh Công Sơn – người hát rong qua nhiều thế hệ, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.
6. Tuyển tập những bài ca không năm tháng, NXB Âm nhạc, 1995.


* PHỤ LỤC

ĐÓA HOA VÔ THƯỜNG

(Trịnh Công Sơn)

*Nhịp 6/8

Tìm em tôi tìm mình hạc xương mai

Tìm trên non ngàn một cành hoa khôi

Nụ cười mong manh một hồn yếu đuối

Một bờ môi thơm

Một hồn giấy mới

Tìm em tôi tìm nhủ lòng tôi ơi

Tìm đêm chưa từng tìm ngày tinh khôi

Tìm chim trong đàn ngậm hạt sương bay

Tìm lại trên sông những dấu hài

Tìm em xa gần đất trời rộn ràng

Tìm trong sương hồng trong chiều bạc mệnh

trăng tàn nguyệt tận chưa từng tuyệt vọng đâu em…

Tìm trong vô thường có đôi dòng kinh sấm bay rền vang

Bỗng tôi thấy em dưới chân cội nguồn

Tôi mời em về đêm gội mưa trong

Em ngồi bốn bề thơm ngát hương trầm……

Trong vườn mưa tạnh tiếng nhạc hân hoan

Trăng vàng khai hội một đóa hoa quỳnh…

* Nhịp 2/4

Từ nay tôi đã có người, có em đi đứng bên đời líu lo

Từ nay tôi đã có tình, có em yêu dấu lẫy lừng nói thưa

Từ em tôi đã đắp bồi, có tôi trong dáng em ngồi trước sân

Mùa đông cho em nỗi buồn, chiều em ra đứng hát kinh đầu sông

Tàn đông con nước kéo lên, chút tình mới chớm đã viên thành

Từ nay anh đã có nàng, biết ơn sông núi đáp đền tiếng ca

Mùa xuân trên những mái nhà, có con chim hót tên là ái ân

(Nhạc chuyển)

* Nhịp 3/4

Sen hồng một nụ em ngồi một thuở

Một thuở yêu nhau, có vui cùng sầu

Từ rạng đông cao, đến đêm ngọt ngào

Sen hồng một độ, em hồng một thuở xuân xanh

Sen buồn một mình, em buồn đền trọn mối tình

* Nhịp 4/4

Một chiều em đứng cuối sông

Gió mùa thu rất ân cần

Chở lời kinh đến núi non

Những lời tình em trối trăn

Một thời yêu dấu đã qua

Gót hồng em muốn quay về

Dù trần gian có xót xa

Cũng đành về với quê nhà

* C

Từ đó trong vườn khuya

Ôi áo xưa em là

Một chút mây phù du

Đã thoáng qua đời ta

Từ đó trong hồn ta

Ôi tiếng chuông não nề

Ngựa hí vang rừng xa

Vọng suốt đất trời kia

Từ đó ta ngồi mê

Để thấy trên đường xa

Một chuyến xa tựa như

Vừa đến nơi chia lìa…

(Nhạc)

Từ đó ta nằm đau

Ôi núi cũng như đèo

Một chút vô thường theo

Từng phút cao giờ sâu

Từ đó hoa là em

Một sớm kia rất hồng

Nở hết trong hoàng hôn

Đợi gió vô thường lên

Từ đó em là sương

Rụng mát trong bình minh

Từ đó ta là đêm

Nở đóa hoa vô thường

(Nhạc để dứt..)

10 tháng 7, 2009

Phôi pha của Trịnh Công Sơn (2)

Sáng tác:Trịnh Công Sơn
Trình bày: Lan Ngọc


Ôm lòng đêm
Nhìn vầng trăng mới về nhớ chân giang hồ
Ôi phù du
Từng tuổi xuân đã già một ngày kia đến bờ
Đời người như gió qua

Không còn ai
Đường về ôi quá dài những đêm xa người
Chén rượu cay một đời tôi uống hoài
Trả lại từng tin vui cho nhân gian chờ đợi

Về ngồi trong những ngày
Nhìn từng hôm nắng ngời nhìn từng khi mưa bay
Có những ai xa đời quay về lại
Về lại nơi cuối trời làm mây trôi

Thôi về đi
Đường trần đâu có gì tóc xanh mấy mùa
Có nhiều khi từ vườn khuya bước về
Bàn chân ai rất nhẹ tựa hồn những năm xưa

PHÔI PHA

Tôi thấy mình đang ngồi trong một túp lều nho nhỏ trơ trọi giữa cánh đồng mênh mông nước. Cô đơn, trống vắng. Ánh trăng nhàn nhạt xuyên qua những làn mây mỏng phía trời xa. Đêm thật hoang vu, tĩnh mịch. Chỉ thấy tiếng côn trùng vọng lại từ xa xen lẫn tiếng thở dài của tôi và tiếng âm u trong tai mình từ sâu thẳm. Gió rít từng cơn hun hút qua kẽ vách, lạnh lẽo.

Tôi ngồi im đón nhận những khoảnh khắc trong lành nhất của đất trời. Tiếng đàn thở vào lòng đêm những âm thanh khúc trắc, chậm rãi. Có cảm giác tắc nghẹn từ những phím đàn, chúng không đều mà cứ nhỏ từng giọt, từng giọt như từng bước chân thơ thẩn của kẻ bộ hành về cõi hư vô.


Các ca sĩ khác trình bày

Ngọn đèn dầu leo lét cháy, tôi nhìn bóng mình trên vách và suy tư về những ngày đã qua với những con người đã gặp. Tất cả hiện ra như một cuốn phim đen trắng quay chậm. Từng gương mặt, từng nụ cười, từng nụ cười... Có những thứ đã nhạt nhòa theo thời gian những có những điều sẽ còn đọng lại mãi.

Nhớ những tháng ngày chật vật khi mới đặt chân vào Sài Gòn, những người đã giúp đỡ mình, những người mình tin tưởng, những người mình có lỗi, nhớ người mình yêu, những người bạn trong cuộc đời... nhớ ngày hôm nay.

Cuốn phim bỗng phụt tắt, chẳng còn gì cả, chỉ còn lại một cảm giác hụt hẫng trong lòng. Từng hát đêm bay vào tâm hồn tôi buồn bã.


Không còn ai, đường về ôi quá dài những đêm xa người...

Buồn vui trong cuộc sống thì ai chẳng đã từng. Nhưng có lẽ cái cảm giác tệ nhất là khi bạn bị bỏ rơi, khi bạn không còn mang lại niềm vui, hạnh phúc, lợi ích cho ai đó, họ bắt đầu lạnh nhạt dần, tệ hơn thì ném vào mặt bạn những lời vô cảm. Bạn có cảm giác như mình là kẻ đứng ngoài cuộc sống. Quá khứ và hiện tại tôi vẫn trải qua những điều đó. Bạn chẳng có giá trị gì cả, bạn là đồ bỏ đi!
Rồi đến một lúc nào đó thì những cảm giác ấy cũng quen dần và bạn chẳng nuôi hi vọng gì nữa, bạn sống cuộc sống của riêng bạn mặc kệ dòng đời trôi chảy.


Chén rượu cay một đời tôi uống hoài, trả lại từng tin vui cho nhân gian chờ đợi...

Có những lần, sau một đêm ngủ sâu, tôi tỉnh dậy thấy trong người khoan khoái, tôi nhâm nhi ly cà phê và thả hồn trong những bản nhạc quen thuộc, cảm giác lúc đó thật tuyệt vời! Ước gì ngày nào cũng được như vậy.

Cuộc sống bấp bênh hay phẳng lặng thì rồi cũng qua như những cơn gió thoảng. Còn lại gì? Để lại gì? Trong những giấc ngủ của mình, không dưới năm lần tôi mơ thấy mình bay được: chỉ cần nhún chân nhẹ một cái là tôi có thể trôi về bất cứ đâu mình muốn. Cuộc đời sẽ chẳng còn những sự phôi pha, chẳng còn những bể dâu nữa.


Đời người như gió qua... thôi về đi, đường trần đâu có gì, tóc xanh mấy mùa...

Rất nhiều ca khúc của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mang màu sắc Phật giáo và triết lí phương Đông, bài này là một trong số đó. Nhiều quan niệm cho rằng trần gian chỉ là cuộc dạo chơi của các linh hồn, chết là "trở về" với cõi hư vô, với cuộc sống khác... nhẹ nhàng như những áng mây trôi. Có lẽ vì vậy mà ông mới viết là "thôi về đi đường trần đâu có gì". Điều này cũng từng xuất hiện trong bài thơ "Khóc Dương Khuê" của Nguyễn Khuyến


Làm sao bác vội về ngay,
Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời


Ca khúc "Phôi pha" được thể hiện bởi nhiều ca sĩ. Tôi có nghe qua Tuấn Ngọc, Quang Dũng, Hồng Nhung, Đàm Vĩnh Hưng... nhưng chưa thấy ca sĩ và bản phối nào diễn tả một cách sâu sắc tâm trạng nhân vật chính trong ca khúc như ca sĩ Lan Ngọc. Bản phối này rất giản dị nhưng để tạo ra những âm thanh giản dị ấy không phải ai cũng làm được.

Có những người thích nhạc Trịnh chỉ đơn giản là thích, có những người thích vì tìm thấy sự đồng cảm, cũng có những người thì chỉ muốn “phô bày” cái "đẳng cấp" của họ. Dù có thích nhạc Trịnh hay không, thích như thế nào thì bạn cũng hãy thử ngồi một mình trong đêm và nghe bài "Phôi pha" này, bạn sẽ yêu nó thực sự.


(Đức Thuận)



(Theo NhacSo.Net - Bài hát vàng)

 
Adapted and Bloggerised by VIETTIEN | Since 2007 | Designed by Lasantha Bandara